Đây là ý kiến sâu sắc của ông Sùng A Lềnh, Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai khi trả lời phỏng vấn phóng viên báo Tin tức và Dân tộc về việc hợp nhất Chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG).
Thưa ông, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc hợp nhất CTMTQG, đây là bước đi đột phá, thể hiện tư duy mới trong xây dựng pháp luật, không chỉ “mở đường”, mà còn “sửa đường” để khắc phục những phân tán, dàn trải, giảm tối đa chi phí, nâng cao hiệu quả theo đúng đường lối của Đảng. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Theo tôi, việc Quốc hội thống nhất các CTMTQG lần này không đơn thuần là gộp các chương trình lại với nhau, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức quản lý, tổ chức thực hiện và sử dụng nguồn lực.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, khi mỗi Chương trình có một cơ chế quản lý, hệ thống văn bản hướng dẫn, cách phân bổ và quy trình thực hiện riêng, dẫn đến nhiều đầu mối, khó lồng ghép nguồn lực; có những nội dung, đối tượng, địa bàn giao thoa nhưng lại phải thực hiện theo nhiều quy trình khác nhau.
Vì vậy, tôi cho rằng đây là một bước chuyển rất rõ trong tư duy xây dựng pháp luật, Nghị quyết hiện nay. Việc sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh chính sách, pháp luật, Nghị quyết không chỉ “mở đường” cho phát triển, khi thực tiễn cho thấy con đường đó còn điểm nghẽn thì phải chủ động “sửa đường”.
Những quy định không còn phù hợp phải mạnh dạn sửa; thủ tục không cần thiết phải cắt giảm; nguồn lực có thể lồng ghép thì phải tổ chức lại để sử dụng hiệu quả hơn. Nếu tổ chức thực hiện đúng tinh thần của Nghị quyết, địa phương sẽ chủ động hơn trong lựa chọn nhiệm vụ, bố trí và điều hành nguồn lực; nguồn lực được tập trung cho những mục tiêu thực sự cần thiết, hạn chế tình trạng phân tán, dàn trải, manh mún như trước đây.
Qua đó, chính sách sẽ đến với người dân đồng bộ, thiết thực hơn và tạo ra kết quả bền vững hơn. Đó mới là giá trị thực chất của việc hợp nhất các Chương trình mục tiêu quốc gia: không chỉ tinh gọn về đầu mối quản lý mà quan trọng nhất đó là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và hiệu quả thụ hưởng chính sách của người dân.
Có ý kiến cho rằng, khi hợp nhất thành một CTMTQG nhưng “có thể tạo ra khoảng trống pháp lý” trong chuyển tiếp thực hiện chương trình, nhất là trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2026. Theo ông, để khắc phục tình trạng này cần phải làm gì?
Tôi cho rằng đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Bởi một chủ trương đúng nhưng nếu quy định chuyển tiếp không rõ thì chính quá trình chuyển đổi có thể phát sinh điểm nghẽn mới. Theo tôi, nguyên tắc quan trọng nhất là chuyển cơ chế quản lý nhưng phải bảo đảm tính liên tục của chính sách, dự án và quyền lợi của người dân.
Trước hết, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có hướng dẫn đồng bộ, xác định rõ nhiệm vụ nào tiếp tục thực hiện theo cơ chế hiện hành, nhiệm vụ nào chuyển sang cơ chế mới; đồng thời làm rõ thẩm quyền xử lý đối với những dự án, nhiệm vụ đang thực hiện dở dang.
Thứ hai, những thủ tục, kết quả thẩm định, phê duyệt, lựa chọn đối tượng đã được thực hiện hợp pháp thì cần được kế thừa, không yêu cầu làm lại chỉ vì thay đổi cơ chế quản lý. Đây cũng là nội dung đã được cơ quan soạn thảo là Bộ Tài chính tiếp thu, giải trình theo hướng bảo đảm quá trình chuyển tiếp không làm phát sinh thêm thủ tục.
Thứ ba, phải chuyển tiếp đồng bộ cả hồ sơ, dữ liệu, nguồn lực và tài sản đã hình thành. Nhà nước đã có thông tin thì không nên yêu cầu địa phương, người dân, doanh nghiệp kê khai lại.
Tôi cho rằng phải giữ được ba yêu cầu: Không gián đoạn nhiệm vụ, không làm lại thủ tục và không ảnh hưởng quyền lợi của người dân. Làm được như vậy, quá trình chuyển đổi mới thực sự tạo thuận lợi ngay từ cơ sở.
Thưa ông, việc phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi không thể tách rời khỏi giáo dục, y tế, văn hóa và sinh kế. Vậy, tích hợp một CTMTQG sẽ tạo điều kiện như thế nào trong bước chuyển từ tư duy quản lý theo từng chương trình, từng ngành sang tư duy phát triển tích hợp lấy con người làm trung tâm, đồng thời khắc phục phân tán nguồn lực, chồng chéo đối tượng và thủ tục?
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đây chính là một trong những ý nghĩa quan trọng nhất của việc tích hợp các CTMTQG. Bởi vì trong thực tế, muốn giảm nghèo bền vững phải tạo được sinh kế; muốn sinh kế phát triển thì phải có hạ tầng, điện, nước, giao thông và đào tạo nghề; đồng thời, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì phải quan tâm đến giáo dục, y tế; đồng thời phải bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào.
Trước đây, khi các mục tiêu này nằm ở nhiều chương trình khác nhau thì nguồn lực cũng được phân chia theo từng chương trình, từng ngành; cùng một địa bàn, thậm chí cùng một đối tượng thụ hưởng nhưng có thể phải thực hiện nhiều quy trình, thủ tục khác nhau. Việc tích hợp lần này tạo điều kiện để chuyển từ “mỗi ngành làm một phần việc” sang cùng tập trung giải quyết những mục tiêu phát triển của một địa bàn và nhu cầu thực chất của người dân.
Đối với địa bàn miền núi, biên giới, điều này càng có ý nghĩa thiết thực. Bởi nhu cầu của mỗi địa bàn không giống nhau. Có nơi cần ưu tiên giao thông, nước sinh hoạt; có nơi cần trường học, y tế; có nơi cần tập trung cho sinh kế, đào tạo nghề hoặc bảo tồn văn hóa. Nếu trao cho địa phương sự chủ động cần thiết trong phạm vi mục tiêu và nguồn lực được giao thì địa phương sẽ lựa chọn đúng việc cần ưu tiên, tập trung nguồn lực để giải quyết những nhu cầu thiết yếu nhất, thay vì nguồn lực bị chia nhỏ, dàn trải, mỗi chương trình làm một ít như trước đây. Đó chính là chuyển từ tư duy quản lý theo từng chương trình nhỏ lẻ sang tư duy tập trung nguồn lực để đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm, lấy người dân và kết quả thụ hưởng của người dân làm trung tâm.
Xin trân trọng cảm ơn ông!