Trường ĐH nghiên cứu phát triển loại thuốc phục hồi chức năng co bóp và vận chuyển của mạch bạch huyết

Nghiên cứu nhằm tìm kiếm hướng điều trị mới cho các bệnh liên quan đến hệ bạch huyết, từ bệnh bẩm sinh hiếm gặp đến các bệnh mạn tính phổ biến.
Chú thích ảnh
Từ trái sang phải: Giáo sư Christopoulos, Phó Giáo sư Celine Valant và Giáo sư Natalie Trevaskis (Ảnh: Đại học Monash)

Đại học Monash (Úc) phối hợp với Đại học Missouri và Đại học Pennsylvania (Mỹ) phát triển các loại thuốc mới giúp phục hồi chức năng co bóp và vận chuyển của mạch bạch huyết. Nghiên cứu nhận tài trợ tối đa 22,4 triệu AUD (khoảng 420 tỷ VND) từ Cơ quan Các Dự án Nghiên cứu Tiên tiến về Y tế (ARPA-H).

Nhóm nghiên cứu tham gia chương trình GLIDE của ARPA-H nhằm tìm kiếm hướng điều trị mới cho các bệnh liên quan đến hệ bạch huyết, từ bệnh bẩm sinh hiếm gặp đến các bệnh mạn tính phổ biến. Chương trình tập trung phát triển các liệu pháp giúp giảm triệu chứng, đồng thời phục hồi hoặc tái tạo hệ mạch bạch huyết bị rối loạn chức năng.  

Giáo sư Arthur Christopoulos, Trưởng khoa Dược và Khoa học Dược phẩm, cho biết nghiên cứu này “đại diện cho một biên giới mới của y học”. Ông giải thích rằng mạch bạch huyết hoạt động giống như một chuỗi các “máy bơm mini”, giúp dẫn lưu dịch, chất thải và các tế bào gây viêm ra khỏi mô. Khi các “máy bơm” này hoạt động kém, dịch sẽ tích tụ trong mô, gây sưng và viêm, góp phần dẫn đến phù bạch huyết và các bệnh mạn tính như viêm khớp.

Trong nhiều thập kỷ qua, các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho phù bạch huyết và nhiều bệnh liên quan vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung kiểm soát triệu chứng thông qua thay đổi lối sống, sử dụng đồ ép nén hoặc phẫu thuật. Chương trình nghiên cứu của Đại học Monash hướng tới phát triển thuốc uống thế hệ mới giúp khôi phục chức năng bơm và vận chuyển tự nhiên của hệ bạch huyết, dựa trên cơ chế phân tử có độ chọn lọc cao và có thể điều chỉnh linh hoạt.

Phương pháp này được tiên phong bởi nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học Dược phẩm Monash (MIPS), cho phép phát triển các loại thuốc an toàn hơn, chọn lọc hơn và hiệu quả hơn, hoạt động đúng nơi, đúng thời điểm và đúng loại mô, đồng thời hạn chế tác dụng phụ ở các phần khác của cơ thể. Nhóm nghiên cứu áp dụng mô hình thiết kế thuốc mới, tập trung vào các phân tử nhắm tới vị trí gắn dị lập thể (allosteric) trên thụ thể acetylcholine muscarinic (mAChRs) – một nhóm protein đặc hiệu trên mạch bạch huyết.

Các vị trí gắn thuốc dị lập thể này tác động lên protein mục tiêu giống như một van điều chỉnh chính xác mức độ tăng giảm, thay vì cơ chế “bật - tắt” đơn giản như các loại thuốc truyền thống vốn chỉ kích hoạt hoặc chặn protein. Cơ chế này cho phép thuốc điều chỉnh hoạt động của hệ bạch huyết về trạng thái bình thường, đồng thời hạn chế tác động lên các protein tương tự ở những phần khác của cơ thể. Chương trình nghiên cứu kéo dài 5 năm, do các nhà khoa học của MIPS dẫn dắt, bao gồm Giáo sư Christopoulos, Phó Giáo sư Celine Valant và Giáo sư Natalie Trevaskis.  

Giáo sư Christopoulos cho biết: “Việc kiểm soát chính xác quá trình đưa các liệu pháp thuốc dị lập thể qua hệ bạch huyết cho phép chúng tôi trực tiếp tác động vào các cơ chế nền tảng gây rối loạn chức năng bơm và vận chuyển - điều trước đây được xem là không thể”.

Giáo sư Trevaskis chia sẻ: "Trong nhiều năm qua, điều trị rối loạn bạch huyết chủ yếu dừng ở kiểm soát triệu chứng, chưa giải quyết được nguyên nhân gốc rễ. Chúng tôi đang nỗ lực thay đổi điều này thông qua việc phát triển các loại thuốc có khả năng trực tiếp phục hồi chức năng bạch huyết".

Nghiên cứu có tiềm năng mở rộng ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh lý phổ biến và hiếm gặp, bao gồm: viêm khớp dạng thấp, viêm khớp tự phát ở trẻ em, phù bạch huyết thứ phát (thường xảy ra sau phẫu thuật, ung thư hoặc chấn thương) và phù bạch huyết bẩm sinh. Rối loạn chức năng hệ bạch huyết khá phổ biến: phù bạch huyết thứ phát ảnh hưởng khoảng 1/30 người trưởng thành, trong khi phù bạch huyết bẩm sinh gặp ở khoảng 1/100.000 người.

Bên cạnh đó, viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng khoảng 1/50 người trưởng thành, còn viêm khớp tự phát ở trẻ em gặp ở khoảng 1/1.000 trẻ em. Nghiên cứu phù hợp với mục tiêu của chương trình GLIDE thuộc ARPA-H, hướng tới phát triển các liệu pháp vật lý, dược lý, gen và tế bào nhằm điều trị các bệnh bạch huyết hiếm gặp cũng như các bệnh mạn tính có biến chứng liên quan đến rối loạn hệ bạch huyết. Chương trình do Kimberley Steele quản lý. 

LV/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Trung Quốc cảnh báo rủi ro an ninh quốc gia ngày càng tăng do AI

Trung Quốc cảnh báo rủi ro an ninh quốc gia ngày càng tăng do AI

Trong bài viết đăng trên tài khoản mạng xã hội của Tạp chí China Cyberspace ngày 13/9, Bộ trưởng An ninh quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin) đã cảnh báo về những rủi ro an ninh quốc gia ngày càng tăng do trí tuệ nhân tạo (AI) gây ra, kêu gọi các khuôn khổ phòng ngừa rủi ro mạnh mẽ và quản trị toàn cầu chặt chẽ hơn đối với công nghệ mới nổi này.

Tắt sóng 2G-từng bước hiện đại hóa hạ tầng viễn thông

Tắt sóng 2G-từng bước hiện đại hóa hạ tầng viễn thông

Thông tin từ Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Khoa học và Công nghệ), từ ngày 15/9/2026, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam sẽ chính thức tắt sóng mạng 2G trên phạm vi toàn quốc.  Sau khi 2G được tắt sóng, tài nguyên tần số, thiết bị và hạ tầng từng phục vụ công nghệ này sẽ từng bước được tái quy hoạch, dành cho 4G, 5G và các mạng di động thế hệ tiếp theo. Đây là xu hướng hiện đại hóa hạ tầng di động của nhiều quốc gia và nhà khai thác.

OpenAI công bố bước nhảy vọt lớn về khả năng của mô hình GPT chủ lực mới

Khi những tập đoàn dẫn đầu cuộc đua AI cùng muốn giảm tốc

Khi lãnh đạo hàng loạt tập đoàn AI hàng đầu thế giới cùng kêu gọi điều tiết tốc độ phát triển công nghệ, cuộc đua AI đang xuất hiện một nghịch lý mới, đó là càng mạnh càng phải biết khi nào cần giảm tốc. Với Việt Nam, đây là gợi mở quan trọng để thực hiện Nghị quyết 57.

AI giúp Trung Quốc giảm mạnh thời gian thăm dò khoáng sản

AI giúp Trung Quốc giảm mạnh thời gian thăm dò khoáng sản

Trung Quốc vừa giới thiệu hai hệ thống ứng dụng AI trong thăm dò khoáng sản và lập bản đồ địa chất. Dữ liệu thử nghiệm cho thấy quy trình dự báo và đánh giá khoáng sản vốn từng mất tới nửa năm nay có thể hoàn tất chỉ trong vòng một tuần.

TP Hồ Chí Minh tính cơ chế "vốn mồi" cho hạ tầng nghiên cứu và phát triển.

TP Hồ Chí Minh xây dựng cơ chế vốn mồi cho hạ tầng R&D

TP Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế hỗ trợ đầu tư hạ tầng nghiên cứu và phát triển (R&D) bằng ngân sách Thành phố, theo hướng Nhà nước chia sẻ một phần chi phí ban đầu, gắn với năng lực R&D, tiến độ và kết quả sử dụng hạ tầng.