Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai

Việc sửa đổi Luật Đất đai là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa các luật có liên quan.

nguyendaithang.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên Nguyễn Đại Thắng phát biểu tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khoá XVI thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Cắt giảm, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính

Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực đất đai, nhà ở, bất động sản cho phát triển, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng "hai con số" và bảo đảm quyền có nơi ở hợp pháp của công dân theo quy định của Hiến pháp, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV tại Hội nghị lần thứ ba đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan, trong đó xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trước đó, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có ý kiến kết luận, định hướng phát triển nhà ở tại Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026. Trung ương yêu cầu trong năm 2026 phải sửa đổi, ban hành đồng bộ Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).

Phát biểu kết luận tại cuộc họp với các bộ, ngành liên quan về dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), sáng 9/9, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu rà soát, xác định những nhóm chính sách đưa vào các dự án luật và những nhóm chính sách đưa vào văn bản hướng dẫn; lưu ý phải thực sự cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, tránh tình trạng trên bộ giảm nhưng dưới địa phương tăng, gây ra những điểm nghẽn, rào cản với phát triển; đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện, kết nối, liên thông dữ liệu về đất đai, nhà ở, bất động sản…

Ông Nguyễn Đại Thắng, đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên cho rằng, việc sửa đổi Luật Đất đai là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nhằm khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm ổn định đời sống, sinh kế của người có đất bị thu hồi, ông Nguyễn Đại Thắng cho rằng: Đây là nội dung đã được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo rất quyết liệt trong thời gian vừa qua. Nghị quyết 21 của Trung ương đã thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy chỉ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi.

Tại Điều 35 của luật đã quy định cụ thể hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. “Tôi cơ bản đồng tình với hướng tiếp cận này. Việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất sẽ góp phần bảo đảm minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên, cùng với việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, tôi cho rằng cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm cuộc sống, sinh kế của người dân sau khi có đất bị thu hồi. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, ông Nguyễn Đại Thắng nhấn mạnh.

Phân cấp mạnh cho chính quyền cấp xã

Tại Điều 42, luật đã quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng, trường hợp không có đất thì bồi thường bằng tiền, đồng thời cho phép bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc bằng nhà ở khi địa phương có quỹ đất, quỹ nhà và người có đất bị thu hồi có nhu cầu.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên, đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng cụ thể hóa hơn yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Theo đó, cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở, đất ở tái định cư.

Bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện trong trường hợp không có quỹ đất, quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất. Đồng thời, cần có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế của người có đất bị thu hồi. Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với khả năng tiếp tục sản xuất hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân có đất được bồi thường về tài sản nhưng gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

Về thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai, phân cấp, phân quyền và kiểm soát quyền lực, ông Nguyễn Đại Thắng cho cho rằng, Điều 18 theo hướng luật hóa các quy định về thẩm quyền đang được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 49 của Chính phủ. Luật cũng đã thiết kế theo hướng UBND cấp tỉnh giữ vai trò quyết định đối với các nội dung quan trọng, đồng thời căn cứ tình hình thực tế và năng lực của cấp xã để phân cấp, ủy quyền một số thẩm quyền cho cấp xã. Trong đó, dự thảo Luật cho phép UBND cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp xã thực hiện một số nội dung như giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc thẩm quyền của mình.

Ông Nguyễn Đại Thắng cho rằng, định hướng này là phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và yêu cầu địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, ông Thắng cũng đề nghị phân cấp phải đi đôi với kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Những quyết định liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giá đất và nghĩa vụ tài chính cần có cơ chế kiểm soát đủ chặt chẽ, nhất là trong bối cảnh thẩm quyền được phân cấp mạnh hơn cho địa phương.

Về cơ chế điều tiết giá trị tăng thêm từ đất và giá đất, tài chính đất đai. Điều 12 của luật đã xác định Nhà nước có thẩm quyền quyết định chính sách tài chính về đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại, tôi đồng tình với nguyên tắc này. Tuy nhiên, Điều 71 hiện chủ yếu quy định các khoản thu ngân sách từ đất đai, trong khi cơ chế cụ thể về điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất chưa thật rõ.

Ông Thắng đề nghị tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế điều tiết đất đối với phần giá trị tăng thêm do quy hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng, chuyển mục đích sử dụng đất và mở rộng không gian đô thị, bảo đảm Nhà nước và xã hội được hưởng một phần hợp lý giá trị tăng do đầu tư công và quyết định quản lý Nhà nước tạo ra. Đồng thời, cần đánh giá tác động của bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại Điều 76 của luật đối với chi phí sản xuất, kinh doanh và khả năng tiếp cận đất đai của doanh nghiệp.

Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký ban hành Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định về khoa học, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; phòng cháy, chữa cháy; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình.
Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo - Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo - Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã tạo ra nguồn vốn đáng kể ngay trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại TP Hồ Chí Minh, mới có 33,8% tổng số tiền trích lập được sử dụng. Việc tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, mở rộng phạm vi chi và kết nối nguồn quỹ với doanh nghiệp khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ đưa nguồn vốn này vào các dự án cụ thể.