Tên lửa đạn đạo đất đối đất có khả năng mang đầu đạn hạt nhân Shaheen-1 của Pakistan được phóng thử tại một địa điểm bí mật. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN (Không được sử dụng, chia sẻ bởi bên thứ ba)
Theo truyền thông Qatar, thỏa thuận được ký tại Mecca ngày 7/8 quy định rằng một cuộc tấn công vũ trang từ bên ngoài nhằm vào bất kỳ quốc gia nào trong ba nước sẽ được coi là hành động tấn công nhằm vào cả ba bên. Thỏa thuận, được công bố hơn 5 tháng sau khi Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch không kích Iran, châm ngòi cho cuộc xung đột nhanh chóng lan rộng tới vùng Vịnh và làm gián đoạn hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, Pakistan, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ đã thận trọng tránh đối đầu với bất kỳ bên nào trong khu vực, cũng như quốc tế trong quá trình hoàn tất thỏa thuận mà họ cho biết là kết quả của nhiều năm nỗ lực và đàm phán.
Ba nước nhấn mạnh thỏa thuận không xác định một mối đe dọa cụ thể, không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là Iran, đồng thời không hủy bỏ hay thay thế các thỏa thuận hiện có với các nước khác.
Tại Tehran, phản ứng trước thỏa thuận nhìn chung khá kiềm chế. Các quan chức Iran chủ yếu nhấn mạnh hợp tác khu vực, đoàn kết giữa các nước Hồi giáo và điều mà họ cho là vai trò của Mỹ tại khu vực đang suy giảm.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi ngày 7/8 cho rằng khi người Hồi giáo đoàn kết, “chúng ta có thể đối mặt trực diện với mọi thách thức từ những thế lực bên ngoài”.
“Đã đến lúc chỉ dựa vào chính mình”, ông Araghchi viết trên mạng xã hội X, nhưng không trực tiếp đề cập đến thỏa thuận ba bên được ký chỉ vài giờ trước đó.
Tuy nhiên, theo ông Hamidreza Azizi, nhà nghiên cứu và phân tích về Iran cùng các vấn đề địa chính trị Trung Đông, Tehran vẫn có những lý do để lo ngại về lâu dài.
Chuyên gia thuộc Viện Clingendael này nhận định thời điểm ký thỏa thuận có ý nghĩa quan trọng, bởi nó được đưa ra sau nhiều tháng xung đột, trong đó Saudi Arabia phải hứng chịu các cuộc tấn công của lực lượng Houthi thân Iran tại Yemen và các nhóm vũ trang ở nước láng giềng Iraq.
“Trong mắt Tehran, mối lo ngại không chỉ là thỏa thuận có thể củng cố khả năng răn đe của Saudi Arabia, mà còn có thể tạo điều kiện để phối hợp gây sức ép lên Iran tại Yemen, Iraq, thậm chí trên phương diện kinh tế thông qua Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan”, ông Azizi nói.
Ngày 9/8, Houthi tuyên bố thực hiện thành công một cuộc tấn công bằng thiết bị bay không người lái (UAV) nhằm vào một cơ sở lọc dầu của tập đoàn Saudi Aramco tại Jizan. Saudi Arabia xác nhận đám cháy đã được dập tắt và không gây thương vong, nhưng không nêu rõ nguyên nhân.
Tại Yemen, tên lửa và UAV của Houthi cũng tấn công cảng al-Makha trên Biển Đỏ, do Chính phủ Yemen được Saudi Arabia hậu thuẫn và được quốc tế công nhận kiểm soát. Các quan chức cho biết ít nhất 7 người thiệt mạng, 15 người bị thương và cơ sở hạ tầng bị hư hại nghiêm trọng.
Houthi tuyên bố mục tiêu của cuộc tấn công là các kho vũ khí. Trong những tuần gần đây, lực lượng này cũng tấn công hoặc buộc các tàu có liên hệ với Saudi Arabia quay đầu trên Biển Đỏ.
Khối liên minh mạnh mẽ
(Từ trái sang, phía trước) Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan, Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman và Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif tại lễ ký hiệp định phòng thủ giữa ba nước ở thành phố Mecca, ngày 7/8/2026. Ảnh: AA/TTXVN
Bộ Ngoại giao Iran chưa đưa ra tuyên bố chính thức về thỏa thuận giữa Pakistan, Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, một quan chức cấp cao đã nêu cách nhìn của Tehran trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông địa phương ngày 8/8.
Ông Hossein Noushabadi, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề Quốc hội và Pháp lý, nói với hãng thông tấn ISNA rằng Bộ Ngoại giao Iran chủ yếu nhìn nhận thỏa thuận trong bối cảnh sự hiện diện trực tiếp của Mỹ tại khu vực đang suy giảm.
Theo ông Noushabadi, thỏa thuận này được nhìn nhận như sự khởi đầu cho quá trình sụp đổ quyền bá chủ an ninh của Mỹ tại Tây Á và vịnh Ba Tư.
“Trong tương lai không xa, có vẻ một trật tự an ninh khu vực mới dựa trên hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực sẽ thay thế những cấu trúc quyền lực do các lực lượng bên ngoài áp đặt. Điều này báo hiệu sự kết thúc của mô hình an ninh và địa chính trị hiện nay, đồng thời cho thấy Tây Á đang rời khỏi phạm vi lợi ích sống còn của Mỹ”, ông Noushabadi nói thêm.
Ông Noushabadi từng là đặc phái viên Iran tại Oman.
Trong khi đó, nhà khoa học chính trị Vali Nasr không cho rằng thỏa thuận hiện là mối đe dọa đối với Tehran.
“Hiện tại, tất cả những yếu tố này đều là thành phần của một trật tự an ninh hậu Mỹ ở Trung Đông”, Giáo sư về Quan hệ quốc tế và Nghiên cứu Trung Đông tại Đại học Johns Hopkins này nói.
Theo Giáo sư Nasr, thỏa thuận này “vừa là một cơ chế cân bằng với Hiệp định Abraham, vừa là một thách thức trực tiếp đối với Tehran”. Đây là sáng kiến bình thường hóa quan hệ với Israel do Mỹ thúc đẩy, được Tổng thống Mỹ Donald Trump hồi tháng trước gắn với thỏa thuận hạt nhân dân sự mà Saudi Arabia mong muốn đạt được.
Ông Mehran Kamrava, Giáo sư tại Đại học Georgetown Qatar, cũng cho rằng các nhà hoạch định chính sách Iran hiện chưa cảm thấy bị đe dọa ngay lập tức, nhất là khi Tehran vẫn duy trì quan hệ hữu nghị với cả Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ, ngay cả trong những thời điểm khó khăn.
“Xét cho cùng, thỏa thuận này không hoàn toàn mới, cũng chưa có nhiều nội dung thực chất ngoài ý nghĩa biểu tượng, ít nhất ở thời điểm hiện tại. Chẳng hạn, cả Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan đều không sẵn sàng can dự vào cuộc chiến của Saudi Arabia tại Yemen, bất chấp những cuộc tấn công gần đây của Houthi nhằm vào vương quốc này”, ông Kamrava nói.
Tuy nhiên, không phải tất cả các lực lượng tại Iran đều hài lòng với thỏa thuận. Một số nghị sĩ theo đường lối cứng rắn và các cơ quan truyền thông cho rằng thỏa thuận này về lâu dài có thể nhằm vào “trục kháng chiến” gồm các lực lượng vũ trang thân Iran trên khắp khu vực, đồng thời làm suy giảm uy tín của Pakistan với tư cách một bên trung gian chủ chốt giữa Iran với Mỹ và các bên khác.
Ông Ebrahim Azizi, thành viên Ủy ban An ninh Quốc gia và Chính sách Đối ngoại của Quốc hội Iran, nhận định: “Nhiều quốc gia Arab cuối cùng đã hiểu rằng an ninh không thể được nhập khẩu từ bên ngoài mà phải được xây dựng trong khu vực. Tuy nhiên, vẫn chưa có một lộ trình cụ thể”.
Ông cảnh báo về nguy cơ những tính toán sai lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, đồng thời cho rằng Iran đã chứng minh mọi sai lầm đều phải trả giá và cân bằng là con đường duy nhất để tiến về phía trước.
Một thành viên khác của Ủy ban, ông Ebrahim Rezaei, cũng viết trên X rằng “một thỏa thuận trên giấy với Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan” sẽ không thể mang lại an ninh cho Saudi Arabia, “cũng như nhiều năm phụ thuộc một chiều vào Mỹ trước đây không thể mang lại an ninh cho họ”.
Iran có đang bỏ lỡ cơ hội?
Ông Azizi thuộc Viện Clingendael cho rằng ưu tiên của Tehran nhiều khả năng là ngăn thỏa thuận này biến thành một liên minh công khai chống Iran, trong bối cảnh cuộc chiến đang gây tác động lan rộng trong khu vực. Vì vậy, Iran sẽ cần duy trì quan hệ với từng nước trong số ba bên.
Theo ông, Tehran cũng có thể tiếp tục nhấn mạnh lập trường lâu nay rằng an ninh khu vực về lâu dài phải do chính các quốc gia trong khu vực xây dựng và tổ chức, thay vì phụ thuộc vào các cường quốc bên ngoài.
“Nếu các quốc gia này cho rằng thỏa thuận mang lại sự bảo vệ thực chất trước Iran hoặc các nhóm thân Iran, khả năng Iran tham gia sẽ càng trở nên khó khăn. Tuy nhiên, về dài hạn, nếu cơ chế này phát triển từ một liên minh nhằm tạo thế cân bằng thành một cấu trúc an ninh khu vực rộng lớn hơn, câu chuyện về sự tham gia của Iran có thể sẽ rất khác”, ông Azizi nói.
Các chuyên gia cũng cho rằng về lâu dài, Iran có thể tìm cách gia nhập thỏa thuận. Tuy nhiên, điều này sẽ đòi hỏi các cuộc tấn công tại eo biển Hormuz và trên khắp khu vực phải chấm dứt một cách bền vững.
Trong tương lai gần, khả năng thỏa thuận mở rộng sang các quốc gia Arab khác trong khu vực được đánh giá thực tế hơn. Ai Cập đã được đề cập như một ứng viên, song đây có thể là quyết định phức tạp đối với Cairo.
Bà Sanam Vakil, Giám đốc Chương trình Trung Đông và Bắc Phi của Chatham House, cho rằng thỏa thuận ba bên phản ánh cả những mối quan ngại về an ninh trước mắt và lâu dài, đồng thời mở ra những cơ hội mới cho Riyadh, Islamabad và Ankara.
“Họ cùng thúc đẩy hợp tác ngoại giao và quốc phòng sâu rộng hơn để ứng phó với sự thiếu tin cậy đối với Mỹ, chính sách của Israel nhằm thay đổi hiện trạng và các hành động đáp trả của Iran”, bà Vakil nói.