Quang cảnh cảng hàng hóa tại California, Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN
Nhưng việc giảm phụ thuộc vào Mỹ sẽ là một quá trình kéo dài nhiều năm và không đồng nghĩa với việc Ottawa phải tách rời nền kinh tế lớn nhất thế giới này.
Theo phía Canada, Mỹ đã thay đổi một số điều kiện vào phút chót, yêu cầu thu hẹp phạm vi miễn thuế đối với ô tô, hạn chế khả năng Canada ký kết hiệp định thương mại với nước thứ ba và buộc Ottawa phải điều chỉnh chính sách thuế theo lập trường của Washington.
Điều này được cho là chạm tới chủ quyền thương mại quốc gia, khiến Canada rút khỏi đàm phán và tuyên bố đáp trả “từng đôla một”, khi Mỹ áp thuế 50% đối với khoảng 20 tỷ USD hàng hóa Canada.
Trả lời phóng viên TTXVN, Cố vấn Hội đồng Thương mại Canada-Việt Nam và là cựu Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị Canada-Việt Nam Bryon Wilfert cho biết Chính phủ Canada không thể chấp nhận một thỏa thuận bất lợi chỉ để hoàn thành đàm phán. Việc đình chỉ thương lượng chắc chắn gây khó khăn cho người lao động và doanh nghiệp, nhưng Ottawa cũng không thể đánh đổi chủ quyền để duy trì quyền tiếp cận thị trường Mỹ.
Theo ông Wilfert, chiến lược thương mại mới của Canada sẽ vẫn phải đặt USMCA ở vị trí trung tâm. Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, nằm ngay sát biên giới và có các chuỗi cung ứng gắn bó sâu sắc với nền kinh tế Canada. Không một thị trường riêng lẻ nào có thể thay thế vị trí này trong tương lai gần. Kết quả tốt nhất vẫn là Canada, Mỹ và Mexico đàm phán gia hạn hiệp định.
Tuy nhiên, khả năng USMCA rơi vào trạng thái bất định kéo dài đang ngày càng trở nên rõ rệt. Sau khi Mỹ không đồng ý gia hạn hiệp định thêm 16 năm vào tháng trước, USMCA đang phải đối mặt với các cuộc rà soát hàng năm. Điều này có thể biến những đe dọa thuế quan đối với thép, nhôm, ô tô và các ngành chiến lược khác trở thành sức ép thường trực đối với Canada.
Sự bất định của USMCA sẽ khiến Canada trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư. Doanh nghiệp khó đưa ra quyết định xây dựng nhà máy hoặc mở rộng sản xuất nếu không chắc chắn được việc hàng hóa sản xuất tại Canada có còn được tiếp cận thị trường Mỹ một cách ổn định hay không.
Ông Wilfert còn cho rằng kịch bản gây xáo trộn lớn nhất là Mỹ rút khỏi USMCA hoặc tìm cách thay thế hiệp định ba bên bằng những thỏa thuận song phương riêng rẽ. Điều 34.6 cho phép một thành viên rút khỏi hiệp định sau khi thông báo trước 6 tháng. Hiện chưa có dấu hiệu cụ thể về việc Washington sẽ thực hiện bước đi này, nhưng đây vẫn là khả năng mà Canada phải tính đến.
Trong bối cảnh này, việc đa dạng hóa thương mại trở thành yêu cầu chiến lược. Tuy nhiên, ông Wilfert nhấn mạnh rằng mục tiêu không phải là giao thương ít hơn với Mỹ. Canada cần tiếp tục phát triển quan hệ kinh tế với Mỹ, đồng thời tăng thương mại với phần còn lại của thế giới.
Các thị trường ngoài Mỹ hiện chiếm khoảng 32,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Canada, mức cao nhất trong 4 thập kỷ qua. Đây là tín hiệu tích cực, nhưng chưa đủ để thay đổi căn bản cơ cấu thương mại. Canada không thể thay thế thị trường Mỹ trong một sớm một chiều, thậm chí trong một vài năm tới.
Ông Wilfert cho biết Canada có thể tạo ra sự đa dạng hóa mang tính cơ cấu trong khoảng 3 đến 7 năm tới nếu phát triển được hạ tầng xuất khẩu, đồng thời giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động và xây dựng mạng lưới khách hàng ở nước ngoài. Trong tầm nhìn khoảng 10 năm, mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu sang các thị trường ngoài Mỹ vào năm 2035 là cách tiếp cận thực tế hơn so với việc tìm cách thay thế hoàn toàn thị trường Mỹ.
Canada hiện đã có hai nền tảng quan trọng là Hiệp định Kinh tế và Thương mại Toàn diện với Liên minh châu Âu (CETA) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Ottawa cần coi các hiệp định này là công cụ thúc đẩy hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ dừng ở những thành tựu về đàm phán chính sách. Điều này đòi hỏi phải tăng cường tài chính xuất khẩu, tổ chức các đoàn xúc tiến thương mại có mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua chi phí thâm nhập thị trường.
Theo ông Wilfert, các thị trường cần được ưu tiên hiện nay của Canada bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, Australia và Vùng Vịnh, với những cơ hội về năng lượng, nông nghiệp, khoáng sản thiết yếu, hàng không vũ trụ, công nghệ và dịch vụ chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, các hiệp định thương mại sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu Canada thiếu năng lực vận chuyển hàng hóa đến các thị trường mới. Ottawa cần tiếp tục phát triển cảng biển, đường sắt, đường ống và các hành lang xuất khẩu nối các tỉnh sản xuất với bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Việc mở rộng năng lực vận chuyển dầu và khí tự nhiên hóa lỏng tới Nhật Bản và các thị trường châu Á, phát triển thủy điện và tăng khả năng kết nối giữa các vùng sẽ giúp Canada giảm sự phụ thuộc vào hệ thống thương mại theo trục Bắc–Nam với Mỹ. Song song với việc mở cửa thị trường bên ngoài, Canada cần hoàn thiện thị trường trong nước. Rào cản về tiêu chuẩn, giấy phép và quy định giữa các tỉnh bang đã tồn tại nhiều năm, làm tăng chi phí của doanh nghiệp và hạn chế quy mô của nền kinh tế nội địa. Tháo gỡ các rào cản này sẽ giúp doanh nghiệp Canada có nền tảng vững chắc hơn trước khi mở rộng ra quốc tế.
Một điều chỉnh quan trọng khác là chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xuất khẩu sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Thay vì chủ yếu bán gỗ, nông sản, năng lượng và khoáng sản chưa qua chế biến, Canada cần phát triển khoáng sản tinh chế, pin, sản phẩm gỗ tiên tiến, công nghệ hạt nhân, dịch vụ trí tuệ nhân tạo và các ngành chuyên môn.
Sự chuyển dịch này vừa nâng giá trị xuất khẩu, vừa tạo thêm việc làm có kỹ năng, vừa giảm mức độ tổn thương trước các biện pháp thuế quan nhắm vào hàng hóa cơ bản. Đây cũng là điều kiện để Canada không chỉ thay đổi điểm đến xuất khẩu mà còn tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng cạnh tranh hơn.
Đàm phán với Mỹ đổ vỡ, vì thế có thể trở thành chất xúc tác để Canada đẩy nhanh những điều chỉnh đã được thảo luận trong nhiều năm. Ottawa vẫn cần bảo vệ USMCA và duy trì quan hệ sâu rộng với Mỹ, nhưng không thể tiếp tục dựa gần như hoàn toàn vào khả năng tiếp cận ổn định ở một thị trường.
Chiến lược khả thi không phải là lựa chọn giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới, mà là tiếp tục giao thương với Mỹ đồng thời mở rộng không gian kinh tế của Canada. Thành công của quá trình này sẽ phụ thuộc vào khả năng biến các hiệp định hiện có thành cơ hội kinh doanh, phát triển hạ tầng xuất khẩu, thống nhất thị trường nội địa và nâng tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao.