08:12 26/08/2026

Doanh nghiệp chịu sức ép kép từ đáo hạn và chậm trả trái phiếu

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang chịu sức ép từ cả các khoản đến hạn và nghĩa vụ thanh toán chậm, trong khi chi phí huy động vốn vẫn ở mức cao. Áp lực tập trung ở nhóm bất động sản, đặt yêu cầu lớn về khả năng tạo dòng tiền và xoay vòng nguồn vốn của doanh nghiệp.

Áp lực đáo hạn và chậm trả

Theo dữ liệu của Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam (KIS Việt Nam), tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn trong tháng 8 có thể đạt 10.061 tỷ đồng, tăng 24% so với tháng trước. Bất động sản và ngân hàng là hai nhóm chịu áp lực lớn nhất, lần lượt chiếm 38,49% và 14,91% tổng giá trị đáo hạn.

Công ty cổ phần Hàng không Vietjet và Công ty cổ phần Hưng Thịnh Land có giá trị đáo hạn lớn nhất, tương ứng khoảng 2.000 tỷ đồng và 1.800 tỷ đồng. Một số khoản đáng chú ý khác gồm Công ty cổ phần Đầu tư và Du lịch Vạn Hương 1.695 tỷ đồng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) 1.500 tỷ đồng, Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc - CTCP (KBC) 1.000 tỷ đồng và Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (Novaland) 945 tỷ đồng.

Theo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), trong phần còn lại của năm 2026, tổng giá trị trái phiếu đến hạn dự kiến đạt 103.865 tỷ đồng; trong đó, bất động sản chiếm 54,3%, tương đương 56.431 tỷ đồng; ngân hàng đạt 20.756 tỷ đồng.

Dù khác biệt về phạm vi thống kê, các số liệu cho thấy nghĩa vụ đáo hạn vẫn là áp lực lớn đối với doanh nghiệp, nhất là nhóm bất động sản.
Đáng chú ý, áp lực thanh toán đã thể hiện qua các khoản chậm trả. Theo KIS Việt Nam, tổng giá trị chậm trả trong tháng 7 tăng lên 7.985 tỷ đồng, tăng 27,818% so với tháng trước và 166,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, chậm trả gốc 4.584 tỷ đồng và chậm trả lãi 3.399 tỷ đồng.

Riêng Công ty cổ phần Bông Sen có 3.099 tỷ đồng chậm trả lãi do tài khoản bị phong tỏa. Doanh nghiệp này cũng đang đối mặt với khoản gốc 4.800 tỷ đồng khi lô trái phiếu dự kiến đáo hạn vào tháng 10.

Ở chiều phát hành, ngân hàng tiếp tục chiếm ưu thế. Theo KIS Việt Nam, ngành ngân hàng phát hành 20.656 tỷ đồng trong tháng 7, chiếm 78% tổng giá trị phát hành. HDBank và Sacombank là các nhà phát hành chính với lần lượt 7.106 tỷ đồng và 3.650 tỷ đồng.

Theo Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam, trong tháng 7 có 20 đợt phát hành với tổng giá trị hơn 17.600 tỷ đồng; lũy kế 7 tháng đạt gần 290.000 tỷ đồng.

Trong khi ngân hàng giữ vai trò dẫn dắt về phát hành, chi phí huy động của bất động sản cao hơn đáng kể. Riêng tháng 7, cả 3 đợt phát hành của nhóm này đều có lãi suất 12,5%/năm, trong khi lãi suất trái phiếu ngân hàng dao động 7,9-10%/năm.

Công ty TNHH Xây dựng Hạ tầng Crystal phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm với lãi suất 12,5%/năm. Vinhomes cũng phát hành các lô trái phiếu riêng lẻ với mức lãi suất tương tự trong các kỳ tính lãi đầu tiên.

Chi phí vốn cao khiến việc phát hành mới để đảo nợ hoặc cơ cấu nguồn vốn không còn là lựa chọn dễ dàng. Doanh nghiệp phải cân đối giữa nhu cầu huy động vốn và khả năng tạo dòng tiền để đáp ứng nghĩa vụ trả nợ trong tương lai.

Hoạt động mua lại trước hạn cũng giảm mạnh. Theo KIS Việt Nam, trong tháng 7, doanh nghiệp mua lại 15.373 tỷ đồng trái phiếu trước hạn, giảm 78,19% so với tháng trước và 42,82% so với cùng kỳ. Nhóm ngân hàng chiếm 85,5% tổng giá trị mua lại.

Trong bối cảnh thị trường cổ phiếu chưa thực sự thuận lợi, trái phiếu vẫn là một kênh huy động vốn được doanh nghiệp lựa chọn. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn đang có sự phân hóa rõ hơn.

Tổng công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp - CTCP (Becamex IDC) dự kiến phát hành tối đa 710 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 3 năm để cơ cấu các khoản vay ngân hàng, với hai kỳ trả lãi đầu tiên 11%/năm.

Trường hợp này cho thấy trái phiếu có thể hỗ trợ doanh nghiệp cơ cấu nguồn vốn, nhưng chi phí huy động vẫn là yếu tố cần tính toán. Ngoài lãi suất, doanh nghiệp còn phải chịu các chi phí liên quan đến tư vấn, đại lý, đăng ký, lưu ký và tài sản bảo đảm.

Thực tế cho thấy doanh nghiệp có tài sản tốt, dòng tiền rõ ràng và dự án khả thi vẫn có cơ hội huy động vốn. Ngược lại, doanh nghiệp có bảng cân đối yếu, tài sản khó định giá hoặc dòng tiền phụ thuộc nhiều vào bán tài sản sẽ khó tiếp cận nguồn vốn hoặc phải chấp nhận chi phí cao hơn.

Theo bà Nguyễn Thị Triều, Tổng giám đốc Blue Bridge Investment Partners, khoảng 80% lượng trái phiếu phát hành hiện nay đến từ ngân hàng và doanh nghiệp bất động sản, trong khi 60-70% người mua cũng là ngân hàng. Điều này cho thấy thị trường chưa thực sự tạo được dòng vốn độc lập với tín dụng ngân hàng.

Tăng kỷ luật để củng cố thị trường

Áp lực thanh toán diễn ra trong bối cảnh khung pháp lý tiếp tục được hoàn thiện. Ngày 5/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2026/NĐ-CP nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Nguyễn Hoàng Dương, nghị định vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp minh bạch thông tin và huy động vốn, vừa bổ sung quy định nhằm bảo đảm thị trường phát triển an toàn, hiệu quả.

Theo bà Nguyễn Thu Bình, Giám đốc Quản trị rủi ro, Công ty cổ phần Quản lý Quỹ PVI (PVIAM), khung pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện về công bố thông tin, giám sát toàn bộ vòng đời trái phiếu và khả năng thực thi quyền của nhà đầu tư.

Nhà đầu tư cần theo dõi được tình hình tài chính của tổ chức phát hành, việc sử dụng vốn, dòng tiền trả nợ và tài sản bảo đảm. Khi phát sinh sự kiện tín dụng, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, tái cơ cấu nợ, biểu quyết và giải quyết tranh chấp cũng cần rõ ràng.

Theo ông Nguyễn Khắc Hải, Giám đốc Khối phụ trách Luật và Kiểm soát tuân thủ, Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI), thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn dư địa lớn nhưng yếu tố quyết định vẫn nằm ở khâu thực thi. Doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích, minh bạch thông tin và bảo đảm khả năng hoàn trả gốc, lãi.

Với khoảng 100.000 tỷ đồng trái phiếu dự kiến đáo hạn trong phần còn lại của năm 2026, khả năng tạo dòng tiền, tái cơ cấu nợ và huy động nguồn vốn mới sẽ quyết định sức chịu đựng của từng doanh nghiệp.

Trong bối cảnh chi phí vốn cao, thị trường trái phiếu sẽ không còn là kênh vốn dễ tiếp cận đối với mọi doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có tài chính lành mạnh, tài sản tốt, dự án khả thi và dòng tiền rõ ràng sẽ có lợi thế hơn. Đây cũng là điều kiện để thị trường chuyển từ phục hồi về quy mô sang nâng cao chất lượng và kỷ luật.

Văn Giáp (TTXVN)