Không còn nồng mùi chất thải
Ghi nhận tại trại nuôi lợn của ông Lê Văn Sen, 45 tuổi, ở tổ dân phố Thiện Đức, phường Hoài Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai thời gian gần đầy không còn cảm nhận rõ mùi hôi hăng như trước. Trong chuồng, đàn lợn ăn uống, vận động bình thường. Không khí chung quanh khá thông thoáng, mùi khai từ phân và nước tiểu giảm đáng kể từ khi sử dụng chế phẩm sinh học EB-L vào nước uống hằng ngày của đàn heo.
Theo đó, tại trại nuôi lợn có một hệ thống cung cấp nước có điều khiển tự động, bên trong bố trí máy bơm định lượng, đường ống và can chứa dung dịch chế phẩm sinh học EB-L để bơm vào nước uống hằng ngày của đàn heo. Theo cài đặt, một lượng chế phẩm rất nhỏ được bơm sang can chứa 20 lít nước, hòa tan rồi chuyển vào hệ thống cung cấp nước uống. Với đàn từ 100 đến 200 con, liều lượng tham khảo khoảng 1cc chế phẩm cho mỗi 20 lít nước. Thiết bị vận hành tự động từ buổi sáng đến chiều, giúp duy trì lượng sử dụng ổn định và giảm sai số so với pha bằng phương pháp thủ công.
Người nuôi không phải thay đổi toàn bộ quy trình chăm sóc. Công việc chủ yếu của người nuôi lúc này là kiểm tra chế phẩm, nguồn nước, tình trạng máy bơm và đường ống. Việc ứng dụng thiết bị tự động giúp giải pháp sinh học trở nên thuận tiện hơn, đồng thời tạo điều kiện kiểm soát liều lượng theo quy mô đàn heo.
Ông Lê Văn Sen cho biết, gia đình đã gắn bó với nghề nuôi lợn khoảng 10 năm. Trước đây, dù chuồng được vệ sinh thường xuyên, mùi chất thải vẫn lan ra chung quanh, đặc biệt vào những ngày nắng nóng hoặc độ ẩm cao. Đây không chỉ là vấn đề của riêng hộ chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến sinh hoạt của các gia đình lân cận.
Ở lứa nuôi gần nhất gồm 270 con, gia đình ông sử dụng khoảng 250ml chế phẩm sinh học EB-L từ khi thả giống đến lúc xuất chuồng. Sau hơn ba tháng, đàn lợn đạt trọng lượng bình quân khoảng 125kg mỗi con. Lợn ăn uống ổn định, da hồng, tăng trưởng khá đồng đều, trong khi mùi phát sinh tại khu vực chuồng giảm rõ rệt.
“Điều gia đình nhận thấy rõ nhất là không khí chung quanh chuồng dễ chịu hơn. Mùi khai, hăng giảm nhiều, việc chăm sóc và vệ sinh cũng nhẹ hơn. Đàn lợn phát triển tốt, ít xảy ra tình trạng rối loạn tiêu hóa. Với giá heo hơi khoảng 60.000 đồng/kg, lứa vừa qua mỗi con mang lại lợi nhuận hơn một triệu đồng”, ông Sen cho biết thêm.
Hiệu quả của mô hình trên còn được thể hiện qua kết quả quan trắc của cơ quan chức năng. Theo phiếu thử nghiệm của Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, các chỉ tiêu NH3, H2S, CO, NO2 và tổng bụi lơ lửng trong không khí tại khu vực trong và ngoài trại heo của ông Sen đều nằm trong giới hạn an toàn. Kết quả này bổ sung cơ sở khoa học cho những thay đổi mà người nuôi và người dân chung quanh có thể cảm nhận trực tiếp.
Theo UBND phường Hoài Nhơn Đông, phường hiện có hơn 16.200 con heo, gần 4.500 con bò và khoảng 79.200 con gia cầm. Chăn nuôi tạo sinh kế cho nhiều gia đình, nhưng quá trình đô thị hóa khiến khoảng cách giữa chuồng trại và khu dân cư ngày càng thu hẹp. Mùi hôi, nước thải và ruồi muỗi từng trở thành nguyên nhân phát sinh phản ánh, kiến nghị, thậm chí gây mâu thuẫn giữa hộ chăn nuôi với người dân chung quanh.
Ông Nguyễn Văn Hiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hoài Nhơn Đông, cho biết địa phương phải giải đồng thời hai bài toán: Duy trì sinh kế của người dân và bảo đảm chất lượng môi trường sống. Việc ứng dụng giải pháp sinh học tại hai hộ nuôi heo ở tổ dân phố Thiện Đức và Xuân Vinh, với tổng đàn khoảng 460 con, đã mang lại kết quả bước đầu đáng ghi nhận.
Theo đó, mô hình không chỉ cải thiện môi trường chuồng nuôi mà còn hỗ trợ hiệu quả kinh tế. Kết quả tính toán ban đầu cho thấy, đàn heo sử dụng chế phẩm mang lại lợi nhuận cao hơn khoảng 381.000 đồng mỗi con so với phương thức nuôi thông thường. Quan trọng hơn, việc giảm mùi đã hạn chế ảnh hưởng đến các hộ dân chung quanh và góp phần duy trì mối quan hệ hài hòa trong cộng đồng.
“Hiệu quả của công nghệ được nhìn thấy ngay tại trang trại, qua sự phát triển của đàn heo, kết quả quan trắc và phản hồi của người dân. Đây là hướng đi đáng khuyến khích, bởi giúp người chăn nuôi nâng cao thu nhập nhưng vẫn thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường”, ông Hiệp đánh giá thêm.
Kết nối hiệu quả ba nhà
Theo đơn vị triển khai mô hình trên, EB-L là chế phẩm có thành phần từ hỗn hợp khoáng chất như zeolite, sericite và illite, được pha vào nước uống của vật nuôi. Giải pháp này hướng đến hỗ trợ hoạt động tiêu hóa, hấp thụ một số hợp chất trong đường ruột và hạn chế quá trình hình thành khí amoniac. Khi khả năng tiêu hóa được cải thiện, lượng thức ăn tồn dư trong chất thải giảm, qua đó góp phần hạn chế mùi tại chuồng nuôi.
Ông Nguyễn Anh Toàn, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư nông nghiệp Việt - Hàn, cho biết, công nghệ này đã được ứng dụng tại hơn 220 trang trại nuôi heo, bò và gia cầm ở Hàn Quốc từ năm 2017. Khi đưa vào Việt Nam, giải pháp được điều chỉnh theo điều kiện chăn nuôi, nguồn nước và quy mô đàn tại địa phương. Ưu điểm nổi bật của mô hình là khả năng tích hợp vào hệ thống cung cấp nước sẵn có. Tủ cấp tự động kiểm soát lượng chế phẩm và thời gian vận hành, giúp các trang trại dễ áp dụng mà không phải đầu tư lại toàn bộ chuồng nuôi. Công nghệ cũng góp phần thay đổi cách quản lý theo hướng chính xác hơn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm pha trộn thủ công.
Theo ông Nguyễn Anh Toàn, hiệu quả tại hai trại thí điểm cho thấy giải pháp có khả năng đồng thời tác động đến ba yếu tố gồm sức khỏe vật nuôi, hiệu quả kinh tế và chất lượng môi trường. Đây là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiếp tục hoàn thiện quy trình, mở rộng theo dõi và phối hợp với cơ quan chuyên môn đánh giá trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau.
“Công nghệ sinh học đang giúp người nuôi xử lý vấn đề môi trường ngay từ quá trình tiêu hóa của vật nuôi. Khi kết hợp hệ thống định lượng tự động, chế phẩm được sử dụng đều và chính xác hơn. Kết quả thực tế tại phường Hoài Nhơn Đông là tín hiệu tích cực để tiếp tục đưa giải pháp đến nhiều hộ chăn nuôi”, ông Toàn nhận định.
Việc sử dụng chế phẩm được thiết kế theo quy mô đàn. Thạc sĩ Nguyễn Anh Trinh, giảng viên Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết, những trại nuôi có không quá 100 con lợn có thể sử dụng khoảng 0,5cc chế phẩm cho 20 lít nước; đàn từ 100 đến 200 con sử dụng 1cc; từ 200 đến 250 con dùng 1,5cc và từ 250 đến 300 con sử dụng khoảng 2cc.
Liều lượng nhỏ nhưng được phân bổ đều qua hệ thống nước uống giúp giải pháp phù hợp với nhiều quy mô chăn nuôi. Theo đó, giá trị đáng chú ý của mô hình là tạo ra một quy trình tương đối đơn giản, người nuôi có thể tiếp cận và vận hành sau khi được hướng dẫn kỹ thuật. Việc ứng dụng không gây xáo trộn lớn đối với hoạt động chăm sóc đàn heo nhưng mang lại thay đổi rõ ở môi trường chuồng trại.
Ông Nguyễn Anh Trinh đánh giá, một giải pháp sinh học có khả năng nhân rộng khi đáp ứng đồng thời yêu cầu an toàn cho vật nuôi, hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường. Những kết quả tại Hoài Nhơn Đông bước đầu cho thấy cả ba yếu tố này đều có chuyển biến tích cực. Đàn lợn tăng trưởng tốt, chi phí sử dụng chế phẩm không lớn, trong khi các chỉ số chất lượng không khí được duy trì trong giới hạn an toàn.
Dưới góc độ địa phương, ông Nguyễn Văn Hiệp cho biết thêm, thực tế công nghệ sinh học đang tạo thêm công cụ để địa phương phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững. Khi người nuôi thấy rõ hiệu quả ngay trong hoạt động sản xuất, việc tiếp nhận công nghệ sẽ thuận lợi hơn. Những mô hình thành công cũng tạo động lực để các hộ chủ động thay đổi cách làm, quan tâm nhiều hơn đến quản lý môi trường và chất lượng sản phẩm.