Bên cạnh đó, việc thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước không chỉ giúp tinh gọn bộ máy mà còn bảo vệ tối đa sức khỏe nhân dân theo tinh thần Nghị quyết 72/NQ-TW.
Kiểm tra ATTP tại chợ đầu mối. Ảnh: TTXVN
Kiểm soát theo chuỗi, chuyển mạnh sang hậu kiểm
Bộ Y tế đang lấy ý kiến xây dựng dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) trong bối cảnh hiện nay, Luật An toàn thực phẩm (ATTP) năm 2010 đã bộc lộ những "khoảng trống" pháp lý. Việc sửa đổi toàn diện Luật An toàn thực phẩm, đặc biệt là thống nhất một đầu mối quản lý và hoàn thiện cơ chế pháp lý, đã trở thành yêu cầu cấp thiết của thực tiễn.
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 184/NQ-CP về bốn nhóm chính sách xây dựng Luật sửa đổi đã mở đường cho tư duy quản lý hiện đại: kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm trên cơ sở đánh giá nguy cơ và ứng dụng công nghệ số.
Về việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm, ông Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết: "Có bốn nhóm chính sách lớn được xây dựng trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi gồm: Quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi kiểm soát, theo nguy cơ và theo toàn bộ quá trình cung ứng thực phẩm; cải cách phương thức quản lý và xây dựng các cơ chế kiểm soát thực phẩm trên thị trường; số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm; nâng cao hiệu quả quản lý đối với bếp ăn tập thể và thức ăn đường phố”.
Theo đó, điểm mới của dự thảo luật là thay đổi căn bản cách tiếp cận trong quản lý an toàn thực phẩm. Nếu trước đây việc quản lý chủ yếu tập trung vào từng khâu riêng lẻ nay sẽ chuyển sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm trên cơ sở đánh giá nguy cơ... Nội dung mang tính đột phá nhất là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên phân tích dữ liệu và đánh giá nguy cơ, áp dụng hậu kiểm thông minh để chủ động phòng ngừa các sự cố.
Đặc biệt, hệ thống được kết nối cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành để phục vụ truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, việc truy xuất nguồn gốc sẽ được triển khai theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế, nhất là đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ nhằm vừa bảo đảm an toàn thực phẩm, vừa không tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp.
Theo ông Chu Quốc Thịnh Thịnh, dự thảo Luật đã phân loại sản phẩm thành ba nhóm quản lý: Nhóm đăng ký bản công bố, nhóm công bố tiêu chuẩn áp dụng và nhóm quản lý thông qua kiểm tra, giám sát thị trường. Cách tiếp cận này vừa giảm bớt thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, vừa giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực kiểm soát các nhóm thực phẩm có nguy cơ cao. Đồng thời, việc số hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về ATTP, buộc các sàn thương mại điện tử công khai hồ sơ pháp lý sản phẩm sẽ tạo dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, chấm dứt tình trạng quảng cáo sai sự thật hay thổi phồng công dụng sản phẩm.
Về các quy định trong Luật về quản lý thực phẩm, bà Trần Thị Xuân Hằng, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Y tế) cho rằng: Dự thảo luật cần tiếp tục rà soát nhiều quy định liên quan đến trình tự quản lý, thẩm quyền ban hành và cơ chế thực hiện nhằm bảo đảm tính minh bạch và khả thi. Đơn cử như với các quy định về điều kiện bảo đảm an toàn của vật liệu, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, hiện dự thảo mới chỉ yêu cầu đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng chưa làm rõ việc chứng minh sự đáp ứng đó bằng hình thức nào trong bối cảnh nhiều thủ tục công bố sản phẩm được cắt giảm.
"Nhiều quy định về công bố sản phẩm, đăng tải thông tin hay thu hồi hồ sơ cũng cần được quy định cụ thể hơn để đảm bảo tính minh bạch và không gây lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện. Đối với thực phẩm nhập khẩu, cần xác định rõ phạm vi điều chỉnh giữa nội dung về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và nội dung kiểm tra nhà nước đối với hàng nhập khẩu; quy trình xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu… để tránh khoảng trống pháp lý khi áp dụng các phương thức kiểm tra khác nhau. Bên cạnh đó cũng cần quy định cụ thể hơn về các nội dung như: Ghi nhãn thực phẩm; chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy…", bà Hằng cho biết.
Thống nhất một đầu mối quản lý
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất khiến công tác bảo đảm ATTP thời gian qua gặp không ít khó khăn chính là sự phân tán, chồng chéo thẩm quyền giữa các bộ, ngành. Sự giao thoa giữa Luật An toàn thực phẩm với Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật... khiến doanh nghiệp lúng túng, còn cơ quan quản lý đôi khi rơi vào thế bị động.
Đứng trước yêu cầu đó, Đề án thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm do Bộ Y tế chủ trì xây dựng theo phân công của Bộ Chính trị được xem là "chìa khóa" giải quyết triệt để bất cập này.
Theo ông Chu Quốc Thịnh, quan điểm của Bộ Y tế là sẽ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; các bộ, ngành và UBND các cấp sẽ phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được quy định trong các nghị định hướng dẫn sau khi đề án được thông qua.
Việc quy định rõ một cơ quan chịu trách nhiệm vừa bảo đảm quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương, vừa phát huy trách nhiệm của các bộ quản lý chuyên ngành và chính quyền các cấp trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, trong sửa đổi Luật An toàn thực phẩm, yêu cầu đầu tiên là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính. Đây là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Theo đó, các quy định trong Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) phải hướng tới mục tiêu cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, hạn chế phát sinh thêm các thủ tục không cần thiết. Song song với việc phân cấp mạnh hơn cho địa phương, cùng với đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, liên thông giữa các cơ quan quản lý để phục vụ công tác giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm. Khi có cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác thì việc quản lý sẽ hiệu quả hơn, giảm được giấy tờ, giảm nhân lực và giảm nhiều khâu trung gian.