Việt Nam trở thành một trong những quốc gia sản xuất OCS lớn nhất thế giới

Ngày 1/6, Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) tuyên bố đã triển khai thành công Hệ thống tính cước thời gian thực (Online Charging System) có tên gọi vOCS.

Bắt đầu nghiên cứu từ năm 2011, sau 6 năm, trải qua nhiều lần thử nghiệm thất bại, cuối năm 2016, Viettel đã chính thức vận hành hệ thống vOCS 3.0.

Trong vòng 6 tháng, Viettel đã chuyển đổi thành công 90 triệu thuê bao sang hệ thống tính cước của mình. vOCS 3.0 do Viettel phát triển có khả năng quản lý tới 24 triệu thuê bao/site trong khi hệ thống tính cước lớn nhất thế giới hiện chỉ quản lý 12 triệu thuê bao/site.

Ngoài ra, vOCS 3.0 còn có khả năng tuỳ biến để thiết kế cho mỗi người dùng một gói cước, điều mà các hệ thống OCS khác chưa làm được. Theo tính toán, nhờ việc tự phát triển hệ thống trí tuệ vOCS 3.0, Viettel đã tiết kiệm được hơn 70 triệu USD chi phí đầu tư.

Việt Nam trở thành một trong những quốc gia sản xuất OCS lớn nhất thế giới ảnh 1

vOCS do đội ngũ kỹ sư của Viettel xây dựng.

Hiện tại, vOCS 3.0 của Viettel đã được triển khai tại 6 quốc gia (Đông Timor, Cameroon, Burundi, Tanzania, Peru và Việt Nam) với số lượng thuê bao quản lý là 140 triệu. Trong tương lai, Viettel sẽ triển khai hệ thống này cho tất cả các thị trường quốc tế mà Tập đoàn đầu tư. Bước tiếp theo trong việc phát triển của vOCS 3.0 là Viettel sẽ đóng gói và đưa sản phẩm chào bán cho các nhà mạng khác trên thế giới.

OCS được coi là trái tim của nhà mạng bởi nó chứa toàn bộ cơ sở dữ liệu về cước phí của người dùng được ghi nhận theo thời gian thực, chính sách kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ của các hãng viễn thông. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 20 nhà cung cấp hệ thống tính cước thời gian thực, trong đó có 03 nhà cung cấp lớn nhất là Amdocs, Ericsson, Huawei.

Như vậy, việc Viettel triển khai thành công hệ thống tính cước vOCS 90 triệu thuê bao tại Việt Nam và với tổng số 140 triệu thuê bao trên 6 quốc gia đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia sản xuất OCS lớn nhất toàn cầu.

Ông Nguyễn Đình Chiến, Phó Tổng giám đốc phụ trách mảng nghiên cứu sản xuất của Viettel, cho biết: “Hiện nay, an ninh, an toàn thông tin đã trở thành mối quan tâm lớn của bất kỳ quốc gia nào. Là một Tập đoàn Viễn thông CNTT lớn nhất của Việt Nam, Viettel đã xác định cho mình trách nhiệm phải nghiên cứu và sản xuất thành công hạ tầng mạng viễn thông để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, bảo vệ không gian mạng. Cho đến nay, khoảng 30% thiết bị của mạng lưới viễn thông của Viettel đã được Viettel làm chủ. Mục tiêu tới năm 2020, 100% mạng lưới viễn thông của Viettel là thiết bị do Viettel nghiên cứu, sản xuất. Chúng tôi đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành 1 trong 3 quốc gia cung cấp thiết bị viễn thông lớn nhất thế giới”.

Mới đây, tổ chức IT World Award – Giải thưởng CNTT thế giới đã công bố vOCS 3.0 của Viettel giành giải Bạc tại hạng mục Sản phẩm CNTT sáng tạo nhất. Dự kiến lễ trao giải sẽ được tổ chức ngày 26/6 tới tại San Francisco (Hoa Kỳ).

vOCS là gì? OCS (Online Charging System) là hệ thống cho phép nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tính cước thời gian thực cho mạng 2G, 3G, 4G và PSTN/ADLS/FTTH trên tất cả các thiết bị thông minh bao gồm các giải pháp M2M, V2V cho điện, nước và giao thông. Đồng thời, OCS hỗ trợ các nhà mạng trong việc quản lý, thiết lập, xử lý, lưu trữ hoạt động tính cước, thiết lập các gói cước cho tất cả các dịch vụ mà nhà mạng viễn thông đang tiến hành kinh doanh như thoại, data, SMS, VAS…. OCS gắn liền với hoạt động kinh doanh và được coi là trái tim của các nhà mạng trong việc thiết lập các bài toán kinh doanh, giúp tăng sự linh hoạt kinh doanhdẫn đến tăng sức cạnh tranh so với các đối thủ.

vOCS là hệ thống tính cước theo thời gian thực do Tập đoàn Viettel tự phát triển (v có nghĩa là Viettel và cũng có nghĩa là Việt Nam). Được xây dựng từ năm 2011, với đội ngũ kỹ sư 20 người và 100% là người Viettel, hệ thống vOCS 3.0 của Viettel còn có khả năng độc nhất trên thế giới: cho phép mỗi người dùng có thể sử dụng một gói cước riêng biệt.

Tin, ảnh: M.T/Báo Tin Tức

Dành cho bạn

Trung Quốc cảnh báo rủi ro an ninh quốc gia ngày càng tăng do AI

Trung Quốc cảnh báo rủi ro an ninh quốc gia ngày càng tăng do AI

Trong bài viết đăng trên tài khoản mạng xã hội của Tạp chí China Cyberspace ngày 13/9, Bộ trưởng An ninh quốc gia Trung Quốc Trần Nhất Tân (Chen Yixin) đã cảnh báo về những rủi ro an ninh quốc gia ngày càng tăng do trí tuệ nhân tạo (AI) gây ra, kêu gọi các khuôn khổ phòng ngừa rủi ro mạnh mẽ và quản trị toàn cầu chặt chẽ hơn đối với công nghệ mới nổi này.

Tắt sóng 2G-từng bước hiện đại hóa hạ tầng viễn thông

Tắt sóng 2G-từng bước hiện đại hóa hạ tầng viễn thông

Thông tin từ Cục Tần số vô tuyến điện (Bộ Khoa học và Công nghệ), từ ngày 15/9/2026, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam sẽ chính thức tắt sóng mạng 2G trên phạm vi toàn quốc.  Sau khi 2G được tắt sóng, tài nguyên tần số, thiết bị và hạ tầng từng phục vụ công nghệ này sẽ từng bước được tái quy hoạch, dành cho 4G, 5G và các mạng di động thế hệ tiếp theo. Đây là xu hướng hiện đại hóa hạ tầng di động của nhiều quốc gia và nhà khai thác.

OpenAI công bố bước nhảy vọt lớn về khả năng của mô hình GPT chủ lực mới

Khi những tập đoàn dẫn đầu cuộc đua AI cùng muốn giảm tốc

Khi lãnh đạo hàng loạt tập đoàn AI hàng đầu thế giới cùng kêu gọi điều tiết tốc độ phát triển công nghệ, cuộc đua AI đang xuất hiện một nghịch lý mới, đó là càng mạnh càng phải biết khi nào cần giảm tốc. Với Việt Nam, đây là gợi mở quan trọng để thực hiện Nghị quyết 57.

AI giúp Trung Quốc giảm mạnh thời gian thăm dò khoáng sản

AI giúp Trung Quốc giảm mạnh thời gian thăm dò khoáng sản

Trung Quốc vừa giới thiệu hai hệ thống ứng dụng AI trong thăm dò khoáng sản và lập bản đồ địa chất. Dữ liệu thử nghiệm cho thấy quy trình dự báo và đánh giá khoáng sản vốn từng mất tới nửa năm nay có thể hoàn tất chỉ trong vòng một tuần.

TP Hồ Chí Minh tính cơ chế "vốn mồi" cho hạ tầng nghiên cứu và phát triển.

TP Hồ Chí Minh xây dựng cơ chế vốn mồi cho hạ tầng R&D

TP Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế hỗ trợ đầu tư hạ tầng nghiên cứu và phát triển (R&D) bằng ngân sách Thành phố, theo hướng Nhà nước chia sẻ một phần chi phí ban đầu, gắn với năng lực R&D, tiến độ và kết quả sử dụng hạ tầng.