Xây 'lá chắn số' bảo vệ người dùng trước lừa đảo công nghệ cao

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), Deepfake và các công cụ tấn công tự động khiến thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, việc xây dựng “lá chắn số” không chỉ là bảo vệ hệ thống mà còn phải bảo vệ dữ liệu, hành trình và người dùng trên không gian mạng.

Lừa đảo ngày càng được cá nhân hóa bằng AI

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Viettel Threat Intelligence ghi nhận nhiều nguy cơ an toàn thông tin mới xuất hiện, ảnh hưởng đến các tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam. Việt Nam nằm trong Top 12 quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi các cuộc tấn công mạng có chủ đích (APT), đồng thời ghi nhận sự gia tăng của mã độc tống tiền (ransomware) và các vụ lộ lọt dữ liệu quy mô lớn.

Ông Ngô Minh Hiếu, Giám đốc và nhà sáng lập dự án phi lợi nhuận chống lừa đảo, thành viên Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, cho biết người dùng có thể nhận diện nhiều dấu hiệu lừa đảo phổ biến chỉ trong vài giây, từ cuộc gọi mạo danh, tin nhắn chứa đường link hoặc mã QR đến các kịch bản dụ dỗ đầu tư sử dụng Deepfake.

Chú thích ảnh
Tấn công mạng ngày càng diễn biến phức tạp.

Theo ông Hiếu, các đối tượng thường giả danh công an, cơ quan chức năng, ngân hàng hoặc cán bộ để tạo lòng tin và gây áp lực. Trong khi đó, đường link, tin nhắn SMS, Zalo, Facebook hoặc mã QR có thể được sử dụng để dẫn người dùng đến website, ứng dụng giả mạo.

Đáng chú ý, AI đang khiến các kịch bản lừa đảo ngày càng tinh vi khi cho phép đối tượng cá nhân hóa nội dung dựa trên thông tin thu thập được về nạn nhân.

“Không phải chúng ta biết về công nghệ hoặc có tri thức thì sẽ tránh được bị lừa”, ông Ngô Minh Hiếu dẫn chứng gần đây 1 trường hợp một người có trình độ cao, thành đạt nhưng vẫn bị lừa hơn 7 tỷ đồng. Theo ông, các đường dây lừa đảo hiện được tổ chức bài bản, khai thác dữ liệu cá nhân và sử dụng AI để xây dựng kịch bản phù hợp với từng nạn nhân.

Ông Hiếu cho biết, theo số liệu dẫn từ Ngân hàng Nhà nước, trong giai đoạn từ ngày 29/6 đến 26/7, hệ thống cảnh báo giao dịch thanh toán SIMO ghi nhận khoảng 460 triệu lượt khách hàng được cảnh báo và khoảng 105 triệu giao dịch được ngăn chặn.

Việc kết nối dữ liệu giữa cơ quan chức năng, ngân hàng, nhà mạng và ví điện tử, theo ông Hiếu, sẽ giúp cảnh báo người dùng theo thời gian thực, thay vì yêu cầu người dân phải sử dụng thêm một ứng dụng riêng.

15 phút “vàng” khi nghi ngờ bị lừa đảo

Theo ông Ngô Minh Hiếu, điểm chung của nhiều vụ lừa đảo là bắt đầu từ dữ liệu. Các đối tượng có thể thu thập hình ảnh, danh sách bạn bè và thông tin công khai để xây dựng “bản đồ” các mối quan hệ của nạn nhân, từ đó lựa chọn cách tiếp cận phù hợp.

Các hình thức lừa đảo tình cảm (Romance Scams) cũng có thể kết hợp AI và Deepfake để tạo dựng hình ảnh, giọng nói hoặc danh tính giả, sau đó dẫn dụ nạn nhân tham gia đầu tư hoặc chuyển tiền.

Bên cạnh đó là thủ đoạn giả mạo cơ quan thuế, công an, ngân hàng để gửi đường link, yêu cầu cài ứng dụng; giả mạo chương trình khuyến mãi, trúng thưởng hoặc nâng hạn mức thẻ tín dụng để thu thập thông tin thẻ và mã OTP.

Để hạn chế nguy cơ, ông Hiếu khuyến nghị người dùng không nên công khai quá nhiều hình ảnh và thông tin cá nhân, đặc biệt là hình ảnh trẻ em; hạn chế hiển thị danh sách bạn bè và những thông tin có thể giúp đối tượng xấu xác định các mối quan hệ của mình.

Đặc biệt, khi nghi ngờ bị lừa đảo, người dùng cần tận dụng “15 phút vàng” để xử lý. Trước hết là dừng tương tác, cô lập tài khoản hoặc thiết bị có nguy cơ; liên hệ ngân hàng để khóa thẻ; đổi mật khẩu, phương thức xác thực và lưu lại tin nhắn, đường link, hình ảnh cùng các bằng chứng liên quan.

Sau đó, người dùng cần báo cáo vụ việc. Đây là bước thường bị bỏ qua nhưng có ý nghĩa quan trọng bởi mỗi báo cáo có thể bổ sung dữ liệu cho cơ quan chức năng, ngân hàng và hệ thống cảnh báo, qua đó góp phần ngăn chặn những nạn nhân tiếp theo.

TS. Nguyễn Thanh Bình, Chuyên gia tư vấn giải pháp an ninh mạng toàn cầu FPT IS, Tập đoàn FPT, cho rằng phòng ngừa lừa đảo không chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin cảnh báo mà cần giúp người dùng hình thành phản xạ xử lý trong những tình huống thực tế.

Theo TS Nguyễn Thanh Bình, thiệt hại do lừa đảo không chỉ được tính bằng tiền. Nhiều nạn nhân còn mất đi sự an nhiên, niềm tin và chịu áp lực tâm lý sau khi bị lừa. Một bộ phận nạn nhân thậm chí không dám chia sẻ với gia đình, bạn bè vì sợ bị trách móc.

Lý giải việc ngay cả những người từng được cảnh báo vẫn có thể mắc bẫy, TS Bình cho rằng tội phạm mạng đang khai thác những “điểm yếu sinh học” của con người. Đây chính là điểm mà các đối tượng lừa đảo khai thác bằng cách tạo ra tình huống khiến nạn nhân quá sợ hãi, quá lo lắng, quá tò mò hoặc tiếc nuối nếu không hành động.

Theo ông Bình, các đối tượng còn có thể thu thập những thông tin như bệnh lý, học vấn, công việc để tối ưu hóa kịch bản, tăng khả năng tác động vào tâm lý từng người. Vì vậy, chỉ đọc tài liệu cảnh báo chưa chắc đủ để người dùng có phản ứng phù hợp khi đối mặt với một tình huống lừa đảo thực tế.

Chuyển từ bảo vệ từng hệ thống sang bảo vệ cả hệ sinh thái

Thượng tá Triệu Mạnh Tùng, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an, nhấn mạnh yêu cầu thay đổi tư duy trong bảo đảm an ninh mạng, từ bảo vệ riêng lẻ từng hệ thống sang bảo vệ toàn bộ hệ sinh thái số và hành trình của người dùng.

Theo Thượng tá Triệu Mạnh Tùng, một vụ việc trên không gian mạng có thể bắt đầu từ tài khoản giả mạo trên mạng xã hội, tiếp đến là khai thác dữ liệu cá nhân, sử dụng hạ tầng viễn thông và cuối cùng dẫn tới một giao dịch tài chính. Tương tự, một lỗ hổng tại một doanh nghiệp có thể trở thành điểm khởi đầu cho chuỗi rủi ro ảnh hưởng đến nhiều tổ chức và người sử dụng.

“An ninh mạng không còn là vấn đề riêng của từng hệ thống, từng doanh nghiệp. Bảo đảm an ninh mạng cần được đặt ra ngay từ quá trình phát triển và vận hành sản phẩm, dịch vụ số, thay vì chỉ được tính đến khi sự cố xảy ra", Thượng tá Triệu Mạnh Tùng nhấn mạnh..

Do đó, bốn yêu cầu trọng tâm được đặt ra gồm tích hợp an ninh mạng trong toàn bộ quá trình phát triển, vận hành sản phẩm và dịch vụ số; chuyển từ phòng vệ thụ động sang chủ động phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn nguy cơ từ sớm, từ xa; tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin; đồng thời gắn bảo đảm an ninh mạng với bảo vệ dữ liệu và người sử dụng.

Trong bối cảnh AI, Deepfake, công nghệ giả giọng nói và các công cụ tấn công tự động đang làm thay đổi phương thức hoạt động của tội phạm mạng, yêu cầu phòng thủ cũng phải thay đổi tương ứng.

Nếu trước đây các vụ tấn công thường nhắm trực tiếp vào máy chủ để phá hoại hoặc tống tiền, hiện nay tội phạm có xu hướng khai thác mắt xích con người và liên kết nhiều điểm yếu trong hệ sinh thái số để chiếm đoạt tài sản.

Bên cạnh đó là sự mất cân đối giữa đầu tư cho chuyển đổi số và đầu tư bảo đảm an toàn thông tin. Một số cơ quan, doanh nghiệp tập trung phát triển hạ tầng, tính năng phục vụ hoạt động kinh doanh nhưng chưa dành nguồn lực tương xứng cho phòng thủ.

Thượng tá Triệu Mạnh Tùng ví thực trạng này như việc tập trung xây một ngôi nhà khang trang nhưng không làm tường rào bảo vệ, khiến tài sản số có thể đối mặt với nguy cơ bị xâm nhập. Luật An ninh mạng 2025, có hiệu lực từ tháng 7/2026, đã quy định các hệ thống thông tin, hệ thống phục vụ chuyển đổi số khi lập dự toán và chuẩn bị thủ tục đầu tư phải dành tối thiểu 15% tổng kinh phí của dự án cho công tác an ninh mạng. Quy định này được kỳ vọng tạo căn cứ để các tổ chức đưa yêu cầu an toàn thông tin vào ngay quá trình thiết kế hệ thống, thay vì bổ sung giải pháp một cách chắp vá sau khi xảy ra sự cố.

Cùng với nguồn lực tài chính, phương thức bảo vệ cũng cần chuyển từ phòng vệ thụ động sang chủ động phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn nguy cơ từ sớm, từ xa. Khi các cuộc tấn công được tự động hóa bằng AI, tốc độ phòng thủ phải nhanh hơn tốc độ tấn công.

Doanh nghiệp cần tăng cường ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn, đồng thời chia sẻ thông tin về mối đe dọa với các cơ quan chuyên trách để kịp thời xử lý nguy cơ trước khi phát sinh thiệt hại.

Bảo vệ người dùng trên không gian mạng cũng gắn chặt với bảo vệ dữ liệu cá nhân. Lãnh đạo Cục A05 cho biết, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, dự thảo Luật Dữ liệu và Luật An ninh dữ liệu dự kiến được trình Quốc hội xem xét trong tháng 10 tới, nhằm thiết lập khung pháp lý chặt chẽ hơn đối với các hệ thống dữ liệu quốc gia và dữ liệu doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế số, an toàn thông tin không còn là khoản chi phí phát sinh mà trở thành điều kiện để phát triển dịch vụ và duy trì uy tín thương hiệu. Một doanh nghiệp không thể xây dựng niềm tin số nếu không bảo đảm an toàn cho hệ thống và thông tin của khách hàng. Do đó, các doanh nghiệp công nghệ trong nước tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và phát triển các sản phẩm an ninh mạng “Make in Vietnam”.

Việc làm chủ các giải pháp an ninh mạng trong nước không chỉ giúp giảm sự phụ thuộc vào sản phẩm ngoại nhập mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế.

Từ bảo vệ từng thiết bị đến bảo vệ dữ liệu, từ cảnh báo nguy cơ đến hình thành phản xạ cho người dùng, xây dựng một “lá chắn số” hiệu quả đòi hỏi sự tham gia của cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, ngân hàng, nhà mạng, các nền tảng số và chính mỗi người sử dụng. Khi các mắt xích cùng được kết nối và chủ động phòng vệ, không gian mạng mới có thể trở thành môi trường an toàn hơn cho người dân và nền kinh tế số.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc
Gỡ điểm nghẽn về quy hoạch vùng tạo liên kết dẫn dắt phát triển
Gỡ điểm nghẽn về quy hoạch vùng tạo liên kết dẫn dắt phát triển

Quy hoạch vùng được xác định là công cụ chiến lược để tổ chức không gian phát triển, thúc đẩy liên kết, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều điểm nghẽn về thể chế, điều phối, dữ liệu và nguồn lực khiến vai trò dẫn dắt của quy hoạch vùng chưa được phát huy đầy đủ.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN