Năm 2026, Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu ra đổi mới sáng tạo tăng 2 bậc so với năm 2025, từ vị trí 37 lên 35, nhờ đó thứ hạng chung được cải thiện một bậc, đạt mục tiêu do Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026.
Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu là bộ công cụ đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia có uy tín trên thế giới, phản ánh mô hình phát triển kinh tế-xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia cho thấy bức tranh tổng thể cũng như các điểm mạnh, điểm yếu của quốc gia. Vì vậy, GII hiện được chính phủ nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ tham chiếu quan trọng cho quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng như xây dựng các chính sách.
Tại Việt Nam, Chính phủ đã sử dụng bộ chỉ số GII như một trong các công cụ quản lý điều hành quan trọng và đã phân công các bộ, cơ quan, địa phương cùng có trách nhiệm cải thiện chỉ số GII, trong đó, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nhiệm vụ là đầu mối theo dõi, điều phối chung.
Sau khi WIPO công bố Báo cáo GII 2026 tại Geneva (Thụy Sỹ), Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết: Việc chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng hai bậc là một kết quả rất đáng ghi nhận, đến từ tinh thần triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW rất quyết liệt trong hơn một năm vừa qua.
Nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã có bước tăng mạnh mẽ, đặc biệt từ việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, hệ thống chính sách, pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước được hoàn thiện. Sự tham gia của các bên liên quan, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến các viện nghiên cứu, trường đại học đã góp phần bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Những kết quả này được ghi nhận thông qua chỉ số đổi mới sáng tạo.
Về mục tiêu GII đến năm 2030 và 2045, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng: Để đạt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) vào năm 2030 và nhóm 30 quốc gia dẫn đầu vào năm 2045, Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm, nếu nhìn vào kết quả phân tích Chỉ số Đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm nay, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như: Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược, nhất là đội ngũ có trình độ sau đại học.
Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế, đây là những sản phẩm có liên quan trực tiếp đến năng lực đổi mới sáng tạo. Đặc biệt là sự tham gia của doanh nghiệp vào các hoạt động đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển.
Trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa, cả về tài chính và con người, từng bước đưa công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và tăng năng suất lao động. Chỉ khi các doanh nghiệp thực sự vào cuộc, Việt Nam mới có thể đạt được các mục tiêu về đổi mới sáng tạo theo tầm nhìn đến năm 2030 và năm 2045.
Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp. Quốc gia thu nhập trung bình thấp xếp trên Việt Nam là Ấn Độ với thứ hạng 38. Ngoài ra, có 2 quốc gia có thu nhập trung bình cao xếp trên Việt Nam là Trung Quốc xếp hạng 10, Malaysia xếp hạng 34, còn lại tất cả các quốc gia xếp trên Việt Nam đều là các quốc gia có nền công nghiệp phát triển, thuộc nhóm thu nhập cao. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam tiếp tục vượt lên trên Thái Lan, đứng thứ 3 sau Singapore và Malaysia, vượt mục tiêu do Chính phủ đặt ra tại Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026.
Trong Báo cáo GII 2026 của WIPO, Việt Nam được WIPO ghi nhận là một trong 7 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm 2013 gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Ma-rốc và Indonesia. Việt Nam cũng là một trong 3 quốc gia có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Trong 16 năm liền, Việt Nam luôn có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo.
Việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đang chuyển mạnh từ giai đoạn xây dựng, hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực thi, từng bước đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng và phát triển. Cùng với mục tiêu tăng trưởng hai con số và các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng, những cải cách vĩ mô như tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn đầu mối quản lý nhà nước ở các bộ, ngành và địa phương đang tạo dựng môi trường thể chế thuận lợi hơn để huy động, phân bổ và phát huy các nguồn lực cho phát triển.
Đây là những tiền đề quan trọng để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, trong đó nguồn lực từ Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương được kết nối và cộng hưởng với năng lực, đổi mới sáng tạo và đầu tư ngày càng lớn của khu vực doanh nghiệp. Những nỗ lực này đã bước đầu tạo ra những chuyển biến tích cực, mang lại kết quả ban đầu cho đổi mới sáng tạo, góp phần đưa chỉ số GII của Việt Nam tăng 1 bậc so với năm 2025, đạt mục tiêu do Chính phủ đề ra, hướng tới mục tiêu năm 2030 vào tốp 40 và năm 2045 vào top 30 quốc gia dẫn đầu về đổi mới sáng tạo trên thế giới.
Kết quả GII của Việt Nam 2026 đã cho thấy, xuất khẩu công nghệ cao, sản xuất công nghệ cao của Việt Nam tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong thương mại và sản xuất công nghiệp; sản xuất sản phẩm sáng tạo tiếp tục dẫn đầu thế giới; khởi nghiệp sáng tạo đã có kết quả được ghi nhận với 3 kỳ lân giá trị hàng tỷ đô la và đã xuất hiện doanh nghiệp khởi nghiệp chuyên sâu trong lĩnh vực khoa học.
Bên cạnh đó, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đã có cải thiện bước đầu, khuyến khích, tạo động lực cho doanh nghiệp thực hiện và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thu hút được các dự án đầu tư nước ngoài mới cho nghiên cứu và phát triển và công nghệ cao. Đặc biệt, đầu ra đổi mới sáng tạo của Việt Nam tiếp tục được đánh giá cao, có thứ hạng cải thiện tích cực tăng 2 bậc so với năm 2025, phản ánh hiệu quả trong việc chuyển hóa các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra, đặc biệt là các sản phẩm tri thức và công nghệ, mang lại tác động tích cực cho kinh tế và xã hội, phát triển bền vững.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc cải thiện kết quả GII 2026 do Việt Nam đã thay đổi cách tiếp cận, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt vào vị trí trung tâm, giữ vai trò trọng yếu trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Từ cách tiếp cận đó, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp để phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời gắn khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chặt chẽ hơn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với các nội dung trọng tâm như: Tập trung xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý, thể chế, tạo nền tảng để khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự là động lực chính cho phát triển kinh tế - xã hội; ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là nghiên cứu và phát triển, đồng thời khuyến khích, tạo động lực để doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thu hút các dự án đầu tư mới về nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược; thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ quản lý nặng về đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra, hướng đến mục tiêu cuối cùng và hiệu quả thực chất...