Tuy nhiên, đổi mới mô hình phát triển đất nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế.
Để làm rõ chủ đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh Ninh Bình về vai trò của Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay.
Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khóa XVI của tỉnh Ninh Bình trả lời phỏng vấn phóng viên báo Tin tức và Dân tộc.
Theo Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Thanh Nghị: Qua 40 năm đổi mới, quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, đổi mới mô hình phát triển đất nước chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ chiến lược còn hạn chế. Ông có ý kiến gì về nhận định này?
Đây là một nhận định khoa học, khách quan và bản lĩnh. Bản lĩnh ở chỗ dám nhìn thẳng vào giới hạn của chính mình, ngay khi đang đứng trên đỉnh cao thành tựu.
40 năm đổi mới đã đưa dân tộc ta đi một chặng đường ít quốc gia nào đi được. Từ một nền kinh tế kém phát triển, đến năm 2025 quy mô GDP của nước ta đứng thứ 32 thế giới, thứ tư ASEAN, nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, trở thành nước có thu nhập trung bình cao. GDP năm 2025 tăng 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD... Đó là những con số không thể phủ nhận. Nhưng thành công đó đặt ra một câu hỏi lớn hơn: Điều đã làm nên thành công hôm qua, liệu có đủ để làm nên thành công ngày mai?
Câu trả lời của Trung ương rất rõ ràng: Chưa đủ. Bởi mô hình tăng trưởng của đất nước còn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp; năng suất lao động, năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khả năng tự chủ chiến lược còn hạn chế. Khi lợi thế lao động giá rẻ mất dần, khi dư địa tài nguyên thu hẹp, khi thời kỳ dân số vàng đang khép lại, mô hình đó tất yếu chững lại. Đó là cơ chế hình thành "bẫy thu nhập trung bình" mà nhiều nền kinh tế đã mắc phải.
Bốn hạn chế mà đồng chí Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nêu ra không phải là những khuyết điểm rời rạc. Đó là bốn biểu hiện của cùng một nguyên nhân gốc: Chưa chuyển được động lực tăng trưởng từ "lượng của đầu vào" sang "chất của tri thức". Một nền kinh tế xuất khẩu hàng trăm tỷ USD, nhưng giá trị gia tăng nội địa còn khiêm tốn; một mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng chưa nắm giữ những khâu quyết định, đó chính là bài toán tự chủ chiến lược.
Điều tôi trân trọng nhất ở nhận định này là tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", tinh thần đã làm nên Đại hội VI lịch sử năm 1986. Nhận diện đúng giới hạn chính là điều kiện tiên quyết để vượt qua giới hạn. Không phải ngẫu nhiên ngay tại Hội nghị này, Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nhận định là tiền đề, nghị quyết là lời giải.
Nếu năm 1986, đất nước đổi mới để tồn tại, hôm nay đổi mới để vươn lên và để dẫn dắt. Đó là sự khác biệt về tầm vóc lịch sử giữa hai cuộc đổi mới. Vì vậy, nhận định của Trung ương không phải là một lời tự phê bình, đó là một lời hiệu triệu.
Trải nghiệm "Công nghệ số - Cuộc sống số" giới thiệu sản phẩm, giải pháp công nghệ tiêu biểu của Hải Phòng. Ảnh: Mạnh Minh/TTXVN
Để đạt được mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số và những quyết sách chiến lược trong giai đoạn tới chúng ta cần có những giải pháp gì, thưa ông?
Nhận định của Trung ương đã xác lập một chân lý phát triển của thời đại: Cạnh tranh giữa các quốc gia hôm nay, xét đến cùng, là cạnh tranh về năng lực công nghệ và tốc độ đổi mới.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không phải một con số đẹp để phấn đấu, mà là mệnh lệnh của lịch sử. Đại hội XIV xác định tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số khoảng 30% GDP, đóng góp của TFP vào tăng trưởng trên 55% và tốc độ tăng năng suất lao động khoảng 8,5%/năm. Chúng ta chỉ còn khoảng một thập niên "vàng" để bứt phá trước khi cấu trúc dân số đảo chiều.
Thực tiễn đang chứng minh mục tiêu ấy khả thi. GDP sáu tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,18%, cao nhất từ năm 2011 đến nay; tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ. Tỷ trọng đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong GDP năm 2025 ước đạt 16,4%, mục tiêu năm 2026 nâng lên 17,5%, với kinh tế số đạt 14,5% GDP. Theo tôi, cần tập trung năm nhóm giải pháp:
Một là, biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh. Nghị quyết 19 yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và dẫn dắt phát triển; quản trị quốc gia theo mục tiêu, dựa trên dữ liệu, đo lường bằng kết quả và tác động phát triển. Phải loại bỏ triệt để tư duy "không quản được thì cấm"; đưa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, khoán chi, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu đi vào cuộc sống thực chất.
Hai là, đầu tư đủ mạnh và chi đúng chỗ. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó nguồn xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng vấn đề không chỉ là chi bao nhiêu, mà là chi thế nào. Phải chấm dứt dàn trải, chuyển sang đặt hàng theo sản phẩm đầu ra, gắn trách nhiệm giải trình.
Ba là, nhân lực, điểm nghẽn lớn nhất. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng còn thiếu. Không có đội ngũ thì mọi mục tiêu công nghệ đều là khẩu hiệu.
Bốn là, doanh nghiệp phải là lực lượng dẫn dắt. Nhà nước ra "đề bài quốc gia", tháng 4/2026, Thủ tướng đã ban hành danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm và giao 20 bài toán lớn cho 10 bộ, cơ quan - doanh nghiệp giải bài. Cùng Nghị quyết 68, phải hình thành đội ngũ doanh nghiệp dân tộc đủ sức làm chủ công nghệ lõi.
Năm là, dữ liệu và hạ tầng chiến lược. Dữ liệu là tư liệu sản xuất mới; phải chấm dứt tình trạng phân mảnh, thiếu liên thông.
Cuối cùng, xin nhấn mạnh: Kỷ luật thực thi quyết định tất cả. Tinh thần "lấy sản phẩm làm thước đo", gắn trách nhiệm người đứng đầu, phải trở thành nếp làm việc. Và tăng trưởng cao phải là tăng trưởng có chất lượng, không đánh đổi ổn định vĩ mô, môi trường và công bằng xã hội lấy tốc độ nhất thời.
Người dân phường Bình Hưng Hòa, TP Hồ Chí Minh tra cứu thông tin từ "Khu phố số". Ảnh: Liên Sơn/TTXVN
Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, tạo lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030-2130), cần có những quyết sách chiến lược gì, thưa ông?
Điểm đặc biệt của Nghị quyết số 19-NQ/TW là lần đầu tiên Đảng ta hoạch định tầm nhìn phát triển ở quy mô một thế kỷ. Định hướng đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn. Đây là bước chuyển từ tư duy nhiệm kỳ sang tư duy thế kỷ. Một dân tộc muốn đi xa phải biết nghĩ dài. Theo tôi, có năm quyết sách mang tính quyết định.
Thứ nhất, đột phá về thể chế và quản trị quốc gia hiện đại - quyết sách gốc. Bốn bước chuyển chiến lược mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu tại Hội nghị Trung ương 3 chính là kiến trúc của lời giải: nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng, bộ máy Nhà nước; quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia; thiết lập mô hình phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; chủ động chuyển từ tư duy ứng phó khủng hoảng sang nhận diện sớm và phòng ngừa rủi ro.
Thứ hai, đặt con người vào vị trí trung tâm. Tài nguyên có thể cạn, địa lý không thể đổi, nhưng trí tuệ con người là nguồn lực duy nhất càng khai thác càng sinh sôi. Giáo dục, y tế, văn hóa không phải lĩnh vực "tiêu tiền" mà là hạ tầng của năng lực quốc gia. Chương trình 33-CTr/TW đặt mục tiêu tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi vào năm 2030 với tối thiểu 68 năm sống khỏe, và trên 80 tuổi trong giai đoạn 2036 - 2045.
Thứ ba, tự chủ chiến lược về công nghệ. Phải chuyển từ "thu hút công nghệ" sang "làm chủ công nghệ", từ vị trí gia công sang vị trí sáng tạo. Chương trình đặt mục tiêu thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thuộc Fortune Global 500 đặt trụ sở, văn phòng hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam: ít nhất 3 tập đoàn vào năm 2030, ít nhất 5 giai đoạn 2031 - 2035 và ít nhất 10 giai đoạn 2036 - 2045. Nhưng thu hút chỉ có ý nghĩa khi đi kèm chuyển giao và nội địa hóa năng lực.
Thứ tư, mở rộng không gian phát triển. Cùng Nghị quyết 19, Trung ương đã ban hành nghị quyết về quốc gia biển mạnh và yêu cầu chuyển quản lý đất đai từ từng thửa đất sang quản trị không gian; từ nặng về thủ tục sang khơi thông, tạo lập nguồn lực. Đồng thời kiên định mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Thứ năm, giữ vững nền tảng độc lập, tự chủ và môi trường hòa bình. Không quốc gia nào phát triển bền vững trong bất ổn.
Nhưng quyết sách lớn nhất là quyết sách về thực thi. 40 chỉ tiêu được xác định theo từng giai đoạn đến 2030, 2035, 2045 cùng 51 nhiệm vụ, giải pháp gắn với cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời gian hoàn thành, kết quả/sản phẩm và nguồn lực thực hiện. Các tỉnh ủy, thành ủy phải ban hành chương trình hành động ngay trong tháng 8/2026. Đây chính là liều thuốc cho căn bệnh "nghị quyết thì hay, thực hiện thì dở".
Xin trân trọng cảm ơn ông!