Chuyên gia Israel: Ưu tiên phát triển thiết kế chip và nguồn nhân lực bán dẫn là hướng đi phù hợp với Việt Nam 

Israel hiện được đánh giá là một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn.

Chú thích ảnh
Các sản phẩm trưng bày trong Lễ ra mắt Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn. Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) đang được thúc đẩy triển khai, phóng viên TTXVN tại Israel đã có cuộc trao đổi với ông Mel Shalev, cựu chuyên gia công nghệ cấp cao với hơn 40 năm kinh nghiệm, trong đó có 37 năm làm việc tại Tập đoàn IBM, về chiến lược phát triển ngành bán dẫn của Israel cũng như triển vọng hợp tác công nghệ cao giữa hai nước.

Theo ông Mel Shalev, Israel có hơn 250 doanh nghiệp hoạt động trong ngành bán dẫn, phần lớn là các công ty quy mô nhỏ, tập trung vào những phân khúc công nghệ chuyên sâu. Hai nhà tuyển dụng lớn nhất trong lĩnh vực này là Intel và Nvidia. Toàn ngành hiện sử dụng gần 8% lực lượng lao động công nghệ của Israel. Trong cơ cấu nhân lực ngành bán dẫn Israel hiện có khoảng 32.000 kỹ sư, trong đó khoảng 10.000 chuyên gia phần mềm, 2.500 nhà khoa học và 10.500 kỹ thuật viên.

Cùng với sự thay đổi của ngành công nghiệp toàn cầu, trọng tâm phát triển của Israel cũng đang chuyển dịch từ mô hình truyền thống dựa trên hoạt động sản xuất và nghiên cứu - phát triển (R&D) của Intel sang các lĩnh vực liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), mạng tốc độ cao và chip dành cho trung tâm dữ liệu - những lĩnh vực mà Nvidia có thế mạnh. Sự hình thành ngành bán dẫn Israel ban đầu xuất phát từ hai nhu cầu chiến lược: bảo đảm năng lực quốc phòng và phát triển nền kinh tế dựa trên xuất khẩu công nghệ quốc phòng. Chính phủ Israel khi đó tập trung thu hút các tập đoàn bán dẫn quốc tế thông qua các chính sách hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế, cấp đất và nhiều cơ chế khuyến khích đầu tư khác.

Israel không đặt mục tiêu ngay từ đầu trở thành một cường quốc bán dẫn toàn cầu. Ngành công nghiệp này phát triển nhờ sự kết hợp giữa nhu cầu chiến lược, nền tảng nghiên cứu quốc phòng, hệ thống giáo dục đại học và cơ hội thị trường. Hoạt động R&D trong lĩnh vực quốc phòng đã góp phần quan trọng trong việc hình thành đội ngũ kỹ sư chất lượng cao, nâng cao năng lực công nghệ và tạo nền tảng cho sự phát triển của ngành bán dẫn. Ông Mel Shalev đánh giá thiết kế chi là lĩnh vực mà Israel có lợi thế tự nhiên về điện tử quốc phòng, khả năng giải quyết vấn đề nhanh, các nhóm kỹ sư tinh nhuệ và năng lực phát triển kiến trúc hệ thống phức tạp

Khi Israel lựa chọn phát triển lĩnh vực này, thế giới chưa xuất hiện những tập đoàn thiết kế chip không sở hữu nhà máy (fabless) hàng đầu như Nvidia hay Qualcomm hiện nay. Việc đầu tư vào foundry khi đó có những lợi ích nhất định, đặc biệt đối với một quốc gia có yêu cầu đặc thù về quốc phòng. Các fabless không chỉ tạo ra năng lực sản xuất mà còn giúp hình thành đội ngũ kỹ sư quy trình, chuyên gia thiết bị, nhân lực vận hành phòng sạch, hệ thống quản lý chất lượng, mạng lưới nhà cung ứng và kinh nghiệm vận hành công nghiệp ở trình độ cao.

So với việc xây dựng nhà máy chế tạo chip đòi hỏi vốn đầu tư hàng tỷ USD, nguồn điện, nước ổn định và hạ tầng đồng bộ, việc xây dựng các trung tâm thiết kế chip cần nguồn lực thấp hơn nhiều nhưng có thể tạo ra giá trị gia tăng cao. Vì vậy, Israel lựa chọn duy trì một số lượng hạn chế các nhà máy chế tạo như những "mỏ neo" của ngành, đồng thời tập trung mở rộng hệ sinh thái trong các lĩnh vực như thiết kế chip, kiểm định, phần mềm nhúng, chip truyền thông, bộ tăng tốc AI và các dòng bán dẫn chuyên dụng.

Chú thích ảnh
Ông Mel Shalev, cựu chuyên gia công nghệ cấp cao của Israel. Ảnh: TTXVN phát

Từ kinh nghiệm của Israel, ông Mel Shalev cho rằng hướng đi phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam là ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và năng lực thiết kế chip thay vì chạy đua xây dựng các nhà máy chế tạo.

Về hợp tác giữa Việt Nam và Israel trong lĩnh vực bán dẫn, ông Mel Shalev nhận định hai nước có thể tập trung vào ba trụ cột chính gồm nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ. Đối với lĩnh vực đào tạo nhân lực, Việt Nam có thể mở rộng hợp tác với các trường đại học hàng đầu của Israel như Technion, Đại học Tel Aviv và Đại học Hebrew Jerusalem, đưa nghiên cứu sinh sang học tập, đồng thời thúc đẩy các chương trình hợp tác nghiên cứu với các trường đại học lớn trong nước.

Ông Mel Shalev cho rằng sau khi hình thành nền tảng hợp tác về đào tạo và nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sẽ là bước phát triển tiếp theo, trong đó quan trọng là hai bên cùng nghiên cứu, cùng phát triển sản phẩm và cùng chia sẻ thành quả.

Về lĩnh vực hợp tác tiềm năng, ông đánh giá cao các ngành ứng dụng như thiết bị y tế, xe điện, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ tài chính và quốc phòng. Trong đó, xe điện được xem là lĩnh vực có nhiều triển vọng nhất do Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái xe điện đang phát triển nhanh, trong khi Israel có thế mạnh về nghiên cứu và phát triển công nghệ ô tô.

Ông dẫn ví dụ về REE Automotive của Israel - doanh nghiệp phát triển nền tảng xe điện dạng module với thiết kế khung gầm phẳng, cho phép lắp đặt nhiều loại thân xe khác nhau, trước mắt là các dòng xe thương mại. Điểm đột phá của công nghệ này nằm ở cụm bánh xe tích hợp đầy đủ các chức năng đánh lái, phanh, hệ thống treo, truyền động và điều khiển ngay tại từng bánh xe. Kiến trúc "drive-by-wire" (điều khiển điện tử hoàn toàn) này mang lại mức độ linh hoạt rất lớn trong thiết kế thân xe và mở ra nhiều hướng phát triển mới cho ngành xe điện.

Một lĩnh vực khác được ông đánh giá có tiềm năng hợp tác là hàng không điện. Israel hiện có nhiều doanh nghiệp và chương trình nghiên cứu trong lĩnh vực này, từ các tập đoàn lớn như Israel Aerospace Industries đến các startup như AIR và Eviation.  Đây đều có thể trở thành những đối tác phù hợp để Việt Nam cùng hợp tác nghiên cứu và phát triển trong giai đoạn tới.

Đề cập đến Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA), ông Mel Shalev cho rằng đây là dấu mốc quan trọng trong quan hệ song phương. Theo ông, giá trị lớn nhất của hiệp định không chỉ nằm ở việc giảm thuế hay thúc đẩy thương mại, mà còn ở việc củng cố niềm tin giữa cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư hai nước.

Ông nhận định các hoạt động hợp tác đầu tư và chuỗi cung ứng giữa Việt Nam và Israel thực tế đã có thể triển khai trước khi VIFTA được ký kết. Tuy nhiên, hiệp định tạo thêm nền tảng để hai bên mạnh dạn thúc đẩy những dự án có quy mô lớn hơn, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu, phát triển sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo ông, lợi ích dài hạn của VIFTA có thể đến từ việc Việt Nam và Israel cùng phát triển các sản phẩm, dịch vụ có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế thông qua mạng lưới các hiệp định thương mại tự do mà hai nước đang có.

Ngoài công nghệ cao, ông Mel Shalev cũng cho rằng VIFTA mở ra nhiều cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực khác như du lịch và nông nghiệp. Việt Nam có lợi thế về du lịch trải nghiệm, trong khi Israel có lượng du khách trẻ yêu thích khám phá. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam có thể mở rộng xuất khẩu các mặt hàng như cà phê, thủy sản và nông sản sang Israel, đồng thời tăng cường hợp tác về công nghệ nông nghiệp.

Ông cho rằng việc cải thiện kết nối logistics, đặc biệt là tuyến vận tải biển giữa Việt Nam và cảng Eilat của Israel, sẽ góp phần giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian giao thương và tạo điều kiện để quan hệ kinh tế song phương phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

Thanh Bình (TTXVN)
Chuyên gia hiến kế đưa Việt Nam tham gia sâu chuỗi cung ứng chip toàn cầu
Chuyên gia hiến kế đưa Việt Nam tham gia sâu chuỗi cung ứng chip toàn cầu

Trong bối cảnh cuộc đua công nghệ bán dẫn ngày càng quyết liệt, Đài Loan (Trung Quốc) tiếp tục khẳng định vị thế là "trái tim" của ngành công nghiệp chip toàn cầu khi sản xuất hơn 90% lượng chip bán dẫn tiên tiến nhất thế giới.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN