Từ những đồng tiền lời bán vé số, chiếc xe máy cũ rong ruổi trên đường, những suất cơm nghĩa tình dành cho bệnh nhân đến mái nhà cưu mang những chú chó bị bỏ rơi, ở TP Hồ Chí Minh có những người chọn cách sẻ chia bằng chính công sức và những gì mình đang có. Không ồn ào, họ bền bỉ làm những việc nhỏ mỗi ngày, để lòng tốt trở thành một phần tự nhiên của đời sống thành phố.
Mỗi sáng, nhiều người dân đi lại trên các tuyến đường Hoà Bình, Lạc Long Quân… không khỏi bất ngờ khi bắt gặp một người đàn ông khoác trên mình trang phục sặc sỡ, dễ thu hút ánh nhìn. Đó là ông Đoàn Văn Thái, 73 tuổi ngụ ở phường Hòa Bình (TP Hồ Chí Minh) làm nghề bán vé số. Có hôm ông mặc trang phục mang phong cách Tây Nguyên, phía sau đeo chiếc gùi cắm những bó lúa khô. Hôm khác ông lại xuất hiện trong một bộ quần áo nhiều màu sắc hoặc một màu nổi bật. Với ông, đó là cách tạo niềm vui, giúp người đi đường dễ nhớ và bán được nhiều vé hơn.
Nhưng điều đặc biệt phía sau những bộ trang phục ấy là một việc ông đã kiên trì nhiều năm, đó là dành một phần tiền lời từ nghề bán vé số để giúp những người khó khăn. Trung bình mỗi ngày bán khoảng 400 tờ vé số với tiền lời khoảng 400.000 đồng, ông lại dành một nửa số ấy cho hoạt động thiện nguyện của mình.
Hình ảnh ông Đoàn Văn Thái bán vé số đã trở nên quen thuộc với nhiều người dân khu vực ông sinh sống. Ở tuổi 73, ông vẫn đều đặn ra đường mỗi ngày, tay cầm xấp vé số và thay đổi nhiều bộ trang phục để tạo sự chú ý. Ông có hàng chục bộ đồ, từ Thần Tài, cao bồi viễn Tây đến những trang phục mô phỏng nhân vật dân gian, văn hóa vùng miền. Hôm nào mặc đồ Tây Nguyên, ông đeo thêm chiếc gùi cắm những bó lúa khô.
Nếu chỉ nhìn vào hình ảnh ấy, ít người biết người đàn ông luôn vui vẻ trước mặt mọi người đã trải qua những mất mát lớn. Năm 2012, con gái ông qua đời ở tuổi 21 sau thời gian mắc bệnh liên quan đến thần kinh. Biến cố khiến gia đình suy sụp, sau đó người vợ của ông cũng lâm bệnh nặng và qua đời năm 2024. Hiện ông sống một mình trong căn nhà nhỏ và tiếp tục công việc đã gắn bó nhiều năm.
“Nhiều lúc nhớ vợ con, tôi mở lại những đoạn clip cũ để nghe lại tiếng nói của bà ấy cho đỡ buồn. Giờ đi bán số riết cũng thành quen, vừa có việc làm vừa đỡ suy nghĩ nhiều”, ông tâm sự.
Công việc bán vé số những năm gần đây không còn thuận lợi như trước. Có thời điểm mỗi ngày ông bán được 500 - 600 tờ, nhưng vài năm trở lại đây lượng vé giảm còn khoảng 300 - 400 tờ/ngày. Tiền lời của mỗi tờ vé số bán được cũng giảm từ khoảng 1.200 đồng xuống còn khoảng 1.000 đồng.
Với mức bán trung bình khoảng 400 tờ mỗi ngày, ông Thái có khoảng 400.000 đồng tiền lời. Trong khoản tiền ấy, ông thường dành khoảng 200.000 đồng để làm từ thiện, phần còn lại trang trải cuộc sống và mua thêm trang phục, đạo cụ phục vụ việc bán vé số. Theo tính toán của ông, số tiền dành cho hoạt động thiện nguyện mỗi năm lên tới hơn 70 triệu đồng.
Một nửa tiền lời dành cho thiện nguyện
“Ngày nào bán được khá thì tôi để dành nhiều hơn một chút. Hôm nào bán chậm thì hỗ trợ ít lại nhưng vẫn cố gắng để riêng một khoản. Mình thấy ai khó khăn thật sự thì giúp trong khả năng của mình”, ông nói.
Khoản tiền ấy được ông dùng theo cách khá giản dị. Trong quá trình bán vé số, ông để ý những người già neo đơn, người bệnh hoặc gia đình gặp biến cố để hỗ trợ. Khi thì vài trăm nghìn đồng mua thuốc, khi là tiền mua gạo cho người nghèo, đóng góp hoạt động cộng đồng hoặc giúp một gia đình khó khăn trong lúc có tang sự.
Với những trường hợp cần khoản tiền lớn để chữa bệnh, như phẫu thuật tim hoặc điều trị bệnh hiểm nghèo, ông đề nghị việc trao tặng phải có người chứng kiến hoặc được ghi nhận rõ ràng. Trích bằng hình ảnh:“Tiền này là tiền mình bán từng tờ vé số mới có được nên tôi muốn mọi thứ rõ ràng. Không phải để nổi tiếng mà để người ta biết số tiền đó đến đúng người cần giúp”, Đoàn Văn Thái chia sẻ.
Theo ông Đoàn Hữu Hải, người sống cùng khu vực, ông Thái đã làm công việc này nhiều năm và được người dân trong khu phố biết đến. “Hồi trước ông ấy chạy xe máy đi bán số, phía trước còn treo bảng bán vé số để làm từ thiện. Trong xóm ai cũng biết chuyện đó hết. Ổng sống vui vẻ, chịu khó và thương người nghèo lắm”, ông Hải nói.
Tại khu chợ ông thường đi qua, nhiều tiểu thương cũng biết câu chuyện phía sau những tờ vé số. Bà Đỗ Thị Ánh Hằng cho biết, nhiều người mua vé của ông không hẳn vì mong trúng thưởng, mà muốn góp thêm một phần nhỏ vào việc ông đang làm.
“Ông ấy sống tiết kiệm với bản thân nhưng lại rất rộng rãi với người khác. Có cụ già neo đơn hay ai gặp khó khăn là ông giúp ngay. Điều tôi quý nhất là ông không phân biệt tôn giáo hay hoàn cảnh, ai khó thì ông cũng sẵn lòng giúp”, bà Hằng chia sẻ.
Có lúc, vì biết ông thường xuyên mang tiền đi hỗ trợ người khó khăn, một số người nghĩ rằng ông đã có tiền nên không còn mua vé số như trước. Ông Thái không giải thích nhiều. Với ông, điều quan trọng là vẫn còn sức khỏe để lao động.
“Mình bán vé số chứ đâu phải đi xin. Tôi chưa bao giờ đứng nài nỉ người ta mua. Ai thương thì ủng hộ, không thì thôi”.
Câu nói ấy cho thấy cách ông nhìn về công việc của mình. Những bộ trang phục nổi bật không phải để tìm kiếm sự thương hại hay kêu gọi quyên góp, mà là cách ông tạo sự chú ý khi bán vé số, có thêm thu nhập và dành một phần để giúp người khó khăn.
Nếu như ông Đoàn Văn Thái chọn những tờ vé số làm điểm bắt đầu cho hành trình sẻ chia thì ông Đỗ Thành Long lại bắt đầu từ chiếc xe máy cũ rong ruổi trên những cung đường.
Ông Đỗ Thành Long là gương mặt quen thuộc với nhiều sinh viên Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và người dân khu vực Quận 9 cũ. Ông Long sinh năm 1970, được nhiều người gọi bằng cái tên “chú Long Quận 9”. Trên chiếc xe máy cũ, ông mang theo máy bơm, ruột xe, dụng cụ sửa chữa và bình xăng dự phòng, mỗi ngày rong ruổi từ sáng đến khuya để hỗ trợ những người gặp sự cố trên đường.
Gần hai thập kỷ qua, ông duy trì việc hỗ trợ người gặp sự cố trên đường. Lời giới thiệu của ông cũng giản dị như chính công việc: “Hết xăng chú cho, thủng lốp chú vá, chú làm miễn phí không lấy tiền đâu”.
Ông Phan Quang Mỹ, một người chạy xe công nghệ thường xuyên qua khu vực làng Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, cho biết ở khu vực làng Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh và tuyến đường từ cầu Sài Gòn tới cầu Đồng Nai, hầu như ai cũng biết đến ông Long. Theo ông Mỹ, ông Long sống nghĩa hiệp, gặp người gặp nạn trên đường thường dừng lại giúp đỡ.
Một ngày của ông Long thường bắt đầu khoảng 8 giờ sáng và kết thúc khi đồng hồ đã điểm 12 giờ đêm. Buổi sáng, ông có mặt tại khu vực ngã tư Thủ Đức hoặc cầu Đồng Nai. Từ 11 giờ đến 13 giờ 30 phút, ông thường túc trực tại Làng Đại học để hỗ trợ sinh viên. Chiều tối, chiếc xe Wave cũ tiếp tục đưa ông qua Xa lộ Hà Nội, cao tốc Mỹ Phước - Tân Vạn, đường Nguyễn Xiển và những tuyến đường khác.
Ông Long gần như không có ngày nghỉ, kể cả Chủ nhật hay mùng 1 Tết. Bởi theo ông, nếu mình nghỉ thì trong lúc ấy vẫn có thể có người gặp sự cố ngoài đường mà không có ai giúp.
Những người nhận sự giúp đỡ của ông nhiều nhất là sinh viên. Với những bạn trẻ xa nhà, chiếc xe máy là phương tiện đi học, đi làm và sinh hoạt hằng ngày. Một chiếc lốp thủng hay ruột xe hỏng có thể trở thành khoản chi không nhỏ.
Ông Long vì vậy không chỉ vá lốp. Có trường hợp ông thay luôn ruột xe mới, tặng bugi, hỗ trợ thay nhớt hoặc cho xăng. Vào mùa mưa, ông còn mang theo áo mưa để phát cho học sinh, sinh viên đứng bên đường nhưng không có đồ che chắn.
Bạn Nguyễn Thị Anh, sinh viên năm nhất, vẫn còn bất ngờ sau khi được ông Long thay ruột xe miễn phí. “Bình thường xe bị lủng bánh tụi em chỉ dám đi vá vì thay ruột mới khá tốn tiền. Nhưng hôm nay chú Long tới giúp, chú thay luôn ruột xe mới mà không lấy tiền. Với sinh viên như tụi em, sự giúp đỡ đó thực sự rất quý”, Anh chia sẻ.
Bạn Nguyễn Mai Hương, sinh viên năm nhất Trường Đại học Bách khoa, cũng từng nghĩ ông Long chỉ chỉ đường đến chỗ sửa xe. Không ngờ ông dừng lại và sửa luôn chiếc xe cho mình. “Lúc đầu em tưởng chú chỉ chỗ cho em đi thay lốp, không ngờ chú thay luôn cho em. Hành động của chú giúp em tiết kiệm được một ngày tiền ăn, nhưng quan trọng hơn là cảm giác ấm áp giữa những người xa lạ”, Hương nói.
Công việc của ông Long nhiều lần vượt ra ngoài chuyện sửa một chiếc xe. Ông từng trực tiếp hỗ trợ một người đàn ông bị đột quỵ trên cầu Rạch Chiếc, có mặt từ khi người này còn tỉnh đến lúc được đưa đi cấp cứu. Một lần khác, ông băng bó và đưa một tài xế Grab bị tai nạn gãy chân vào Bệnh viện Thủ Đức.
Có những trường hợp đau lòng hơn, khi một người qua đời nhưng không có thân nhân bên cạnh, ông cũng đứng ra hỗ trợ việc tắm rửa cho người đã mất.
Với ông Long, những việc ấy bắt đầu từ một cuộc gặp trên đường. Từ năm 17 tuổi, ông đã có thói quen giúp đỡ người gặp khó khăn. Sau đại dịch COVID-19, khi công việc chậm lại, ông quyết định dành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động cộng đồng.
Tiếp cận mạng xã hội, ông đã lập kênh “Long Quận 9”. Theo ông, kênh kết nối này không nhằm tìm kiếm sự nổi tiếng mà để việc hỗ trợ được minh bạch và những người cần giúp có thể nhanh chóng tiếp cận. Đến nay, “Tiệm sửa xe 0 đồng” hoạt động ổn định hơn nhờ sự chung tay của các nhà hảo tâm. Những vật dụng như ruột xe, bugi và một số linh kiện được hỗ trợ, giúp ông giảm bớt phần kinh phí phải tự xoay xở.
Sự sẻ chia của ông Long cũng được gia đình tiếp nối. Hai người con đã lớn, tự lập nhưng vẫn ủng hộ và học theo cha, sẵn sàng giúp những người hết xăng hoặc gặp khó khăn trên đường. Khi được hỏi sẽ tiếp tục công việc này đến bao giờ, ông Long cười rồi nói:
Nếu ông Đỗ Thành Long chọn chiếc xe máy cũ và bộ đồ nghề làm cách giúp người gặp khó khăn trên đường, thì với chị Đỗ Thị Tưởng, sự sẻ chia lại bắt đầu từ những bữa cơm nóng dành cho bệnh nhân và người nhà đang ngày ngày túc trực trong bệnh viện.
Gần 10 giờ sáng, trước cổng Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhi Đồng 2 hoặc Bệnh viện Phục hồi chức năng, những phần cơm từ “Trạm cơm nghĩa tình” lại được chuyển xuống xe. Người bưng thùng cơm, người sắp bàn, chia phần ăn; bệnh nhân và thân nhân lần lượt xếp hàng chờ đến lượt.
Bên trong mỗi phần ăn là cơm nóng, món mặn, rau và canh. Có những ngày, bếp chuẩn bị từ vài trăm đến gần 1.000 suất. Sau tám năm, công việc ấy đã trở nên quen thuộc với chị Tưởng và những người đồng hành. Nhưng để có một căn bếp đều đặn đỏ lửa như hôm nay, mọi chuyện bắt đầu từ ký ức về những tháng ngày chính chị từng thiếu một bữa ăn đủ đầy khi chăm người thân trong bệnh viện.
Sinh ra trong một gia đình khó khăn, chị Tưởng lên thành phố mưu sinh, trải qua nhiều công việc để kiếm sống. Biến cố xảy đến khi mẹ chị gặp tai nạn và phải điều trị dài ngày. Kinh tế gia đình vốn eo hẹp gần như dồn hết cho thuốc men, chi phí chữa bệnh.
Trong hơn một tháng ở bệnh viện chăm mẹ, có những ngày bữa ăn của chị chỉ là cơm với đậu hũ hoặc bún ăn cùng nước tương. Sau đó, gia đình tiếp tục trải qua những mất mát khi em trai rồi người cha lần lượt qua đời.
Những biến cố ấy khiến chị càng thấm thía hoàn cảnh của những gia đình vừa đối diện bệnh tật, vừa phải tính toán từng khoản chi.
Từ trải nghiệm đó, chị tự nhủ nếu sau này cuộc sống khá hơn sẽ tìm cách giúp những người đang ở trong hoàn cảnh giống mình năm trước. Ban đầu, khi điều kiện còn hạn chế, chị chỉ tham gia những hoạt động thiện nguyện nhỏ, góp công sức hỗ trợ người khó khăn.
Cơ duyên hình thành bếp ăn bắt đầu khi chị gặp anh Lê Văn Phong (Phong Bụi), một nhà sáng tạo nội dung. Cùng mong muốn hỗ trợ bệnh nhân, hai người góp khoảng 2,5 triệu đồng mua gần 100 suất cơm mang đến Bệnh viện Phục hồi chức năng để trao tặng.
Số cơm nhanh chóng được phát hết trong khi vẫn còn người đứng chờ. Hình ảnh đó khiến chị Tưởng nghĩ đến một cách làm khác: Nếu tự mua nguyên liệu và nấu, cùng số tiền ấy có thể chuẩn bị được nhiều suất hơn. Từ gần 100 phần cơm mua sẵn, họ tính toán để tự nấu được gần 200 phần.
Những ngày đầu, căn bếp còn đơn sơ. Một nồi cơm lớn, món mặn và nồi canh là thành bữa ăn. Nguyên liệu, chi phí và công sức chủ yếu do một nhóm nhỏ tự xoay xở. Từ một buổi mỗi tuần, bếp dần tăng số ngày hoạt động khi có thêm những người biết đến và cùng góp sức.
Hiện mỗi ngày, bếp chuẩn bị từ vài trăm đến gần 1.000 suất cơm để mang tới Bệnh viện Phục hồi chức năng, Bệnh viện Nhi Đồng 1 và Bệnh viện Nhi Đồng 2. Thực đơn cũng được thay đổi để người nhận dễ ăn, từ món mặn, rau xanh đến những món canh quen thuộc.
Điều chị Tưởng quan tâm không chỉ là số lượng phần ăn đã phát, mà còn là liệu những người đến sau có còn cơm hay không. Những hôm dự đoán lượng người nhận đông, bếp thường chủ động chuẩn bị thêm để hạn chế cảnh có người phải quay về tay không.
Giá trị của những phần cơm càng rõ hơn với các gia đình phải ở bệnh viện nhiều tháng. Chị Lê Tuyết Mai từ Phú Yên vào TP Hồ Chí Minh chăm cháu sinh non tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 suốt gần bốn tháng. Gia đình vốn khó khăn, nhà cửa và tài sản lại bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. Thời gian đầu, tiền ăn uống cho hai người trở thành một khoản phải tính toán mỗi ngày.
Khi biết đến các điểm phát cơm thiện nguyện, trong đó có “Trạm cơm nghĩa tình”, một phần chi phí ấy được giảm xuống. Khoản tiền tiết kiệm từ những bữa ăn có thể dành thêm cho thuốc men và những nhu cầu khác trong quá trình chăm cháu.
Với những gia đình phải ở bệnh viện lâu ngày, một hộp cơm miễn phí không chỉ giúp no bụng mà còn bớt đi một khoản phải lo giữa lúc khó khăn. Từ gần 100 phần cơm mua bằng khoản tiền góp ban đầu đến những ngày căn bếp chuẩn bị hàng trăm, có khi gần 1.000 suất, “Trạm cơm nghĩa tình” đã đi qua tám năm. Một lời hứa được hình thành từ những ngày chị Tưởng từng ngồi bên giường bệnh, chắt chiu từng bữa ăn, dần trở thành một công việc được duy trì bền bỉ.
Một bữa cơm không thể giải quyết hết những khó khăn của một gia đình đang có người đau bệnh, nhưng có thể giúp họ bớt một khoản chi, có thêm một bữa ăn nóng và cảm nhận rằng trong những ngày mệt mỏi nhất, vẫn có những người xa lạ sẵn lòng dành cho mình một phần sẻ chia.
Ở xã Đông Thạnh, một câu chuyện khác về sự sẻ chia đang diễn ra mỗi ngày, nhưng đối tượng nhận được sự chăm sóc lần này không phải là con người.
Khi cánh cổng “Nhà Xanh” vừa mở, tiếng chó sủa lại rộ lên như để chào đón người đến thăm. Khoảng 150 chú chó được chia thành nhiều khu theo tình trạng sức khỏe. Chó con, chó già, chó bệnh nặng, chó liệt, chó mang thương tật và những con đã hồi phục, đang chờ được nhận nuôi đều có khu vực riêng.
Khuôn viên được sắp xếp gọn gàng, sạch sẽ. Những chú chó mang xe lăn nhỏ có thể di chuyển trong sân; những con già nằm dưới nắng sớm. Một chiếc loa nhỏ phát nhạc nhẹ vào mỗi buổi sáng, thói quen do chồng chị Ngân duy trì với mong muốn những con vật từng chịu tổn thương có cảm giác an toàn hơn.
Chị Nguyễn Thị Kim Ngân, 36 tuổi, cùng chồng bắt đầu câu chuyện này từ một ngày mưa năm 2020. Năm đó, đúng ngày sinh nhật, chị tình cờ gặp một người đang chở năm chú chó đến lò mổ. Không đắn đo, chị dùng toàn bộ số tiền mang theo để chuộc cả năm con rồi nhờ bạn bè, người thân tìm người nhận nuôi.
Thời điểm đó, vợ chồng chị đang chịu áp lực vì hiếm muộn. Hai lần mang thai nhưng đều sẩy thai khiến chị suy sụp. Hai tháng sau khi cứu năm chú chó, chị mang thai tự nhiên. Với chị, đó là một cơ duyên để tiếp tục đồng hành cùng những con vật kém may mắn.
Từ những trường hợp đầu tiên, số lượng chó được cứu ngày càng tăng. Chị nhận những con bị bỏ rơi, chó già, chó gặp tai nạn rồi tìm chủ mới. Tuy nhiên, nhiều trường hợp không dễ tìm người nhận nuôi, đặc biệt là chó bệnh nặng hoặc mang thương tật.
Bước ngoặt đến đầu năm 2024, khi chị tiếp nhận chú chó tên Côn Đảo. Chú chó bị đánh gãy cả hàm trên lẫn hàm dưới, được đưa từ Côn Đảo về TP Hồ Chí Minh trong tình trạng rất nặng. Bác sĩ nhận định Côn Đảo chỉ còn sống được khoảng một tháng do chấn thương quá nặng.
Chị Ngân không muốn bỏ cuộc. Chị thuê một khu đất riêng để chăm sóc Côn Đảo và những trường hợp tương tự. Tháng 4/2024, “Nhà Xanh” chính thức ra đời.
Từ đó, nơi này tiếp nhận ngày càng nhiều chó bị bỏ rơi, gặp tai nạn, bệnh nặng hoặc mang thương tật cần được chăm sóc lâu dài. Có những trường hợp bác sĩ hoặc người đưa chó đến khuyên nên trợ tử vì con vật phải chịu đau đớn và khả năng hồi phục thấp. Chị Ngân vẫn chọn cách cố gắng đến cùng khi còn hy vọng.
Hy Vọng là một trong những chú chó như vậy. Khi được đưa đến “Nhà Xanh”, Hy Vọng bị gãy xương hàm, đa chấn thương sau một vụ tai nạn. Có người khuyên nên tiêm nhân đạo vì khả năng hồi phục rất thấp nhưng chị Ngân vẫn nhận về chăm sóc.
Suốt hơn hai tháng, Hy Vọng được bơm từng bữa ăn, tập phục hồi từng chút. Đến nay, chú chó vẫn chưa thể tự ăn như những con khỏe mạnh, nhưng vẫn sống và đáp lại sự chăm sóc của những người đã không bỏ cuộc.
Công việc ở đây bắt đầu từ rất sớm. Chị Ngân chuẩn bị thức ăn, thuốc men cho những con bệnh; chồng chị dọn dẹp chuồng trại, thay nước và vệ sinh từng khu. Với khoảng 150 chú chó, riêng việc làm sạch nơi ở đã mất gần cả buổi sáng.
Những con bị liệt, đa chấn thương hoặc không thể tự ăn uống cần được chăm sóc kỹ hơn. Có con phải ăn bằng xi lanh, uống thuốc đúng giờ; có con không thể tự đi vệ sinh và cần người hỗ trợ. Những ngày có ca bệnh nặng, hai vợ chồng thay nhau thức đêm, vài giờ lại dậy cho uống thuốc hoặc bơm thức ăn.
Mẹ chị Ngân, bà Thu, cũng thường xuyên hỗ trợ con gái. Mỗi ngày, bà sơ chế thịt, nấu cơm và chuẩn bị thức ăn. Có ngày bà phải nấu đến năm nồi cơm lớn, chia thành hơn 150 phần trước khi cùng mọi người thu dọn và rửa từng chiếc tô.
“Trước kia tôi không biết con gái làm việc này, nó giấu không cho tôi biết, sau này biết thấy con mình làm việc tốt thì tôi rất ủng hộ. Tôi cũng thương các bé lắm, thấy bị chủ bỏ, đi lang thang tội quá nên mình lên phụ giúp được gì thì giúp”, bà Thu nói.
Vợ chồng chị Ngân từng thuê người phụ việc nhưng không ai gắn bó được lâu. Công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhất là với những chú chó từng chịu tổn thương tâm lý, không tự ăn được hoặc cần chăm sóc liên tục. Cuối cùng, phần lớn công việc vẫn do hai vợ chồng đảm nhận.
Theo thời gian, “Nhà Xanh” có thêm sự hỗ trợ của sinh viên, tình nguyện viên và các nhà hảo tâm. Người đến phụ dọn chuồng, quay phim, chụp ảnh để lan tỏa câu chuyện; có người hỗ trợ thức ăn, thuốc men hoặc chi phí vận chuyển.
Giữa một thành phố đông đúc, những việc làm ấy diễn ra lặng lẽ, một lần dừng xe giúp người gặp sự cố, một phần tiền lời được dành lại cho người khó khăn, một suất cơm nóng trao đến người đang điều trị và chăm bệnh, hay một cánh cửa mở ra cho những con vật bị bỏ rơi. Mỗi việc có thể nhỏ bé khi đứng riêng, nhưng khi được bền bỉ duy trì qua ngày tháng, sự sẻ chia dần trở thành một phần gần gũi trong đời sống thành phố.
Từ những điều bình dị
Bốn câu chuyện là bốn cách cho đi khác nhau, nhưng đều bắt đầu từ những gì mỗi người đang có, một phần thu nhập dành lại, một bộ đồ nghề mang theo trên xe, một suất cơm được nấu thêm hay một mái nhà dành chỗ cho những sinh linh kém may mắn. Từ những điều bình dị ấy, họ góp thêm những câu chuyện đẹp về sự sẻ chia, để Thành phố mang tên Bác thêm nhân ái, nghĩa tình và hào sảng.