Tuy nhiên, mô hình thu hút FDI để thúc đẩy xuất khẩu có những giới hạn nhất định và giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi thu hút vốn đầu tư mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn từ dòng vốn đó. Quyết tâm ấy được thể hiện rõ trong Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, một bước phát triển quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam.
Đây là nhận định của ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu, Ngân hàng HSBC Việt Nam, trong báo cáo về FDI Việt Nam vừa được công bố.
Công nhân điều hành dây chuyền sản xuất tại Nhà máy nhiên liệu sinh khối EREX SAKURA Tuyên Quang. Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN
“Đất lành chim đậu”
Theo ông Richard Barnsley, gần bốn thập kỷ kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, Việt Nam là minh chứng rõ nét cho câu “Đất lành chim đậu”. Với chi phí lao động cạnh tranh, nền chính trị ổn định, mạng lưới Hiệp định thương mại tự do ngày càng rộng mở và môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn hàng đầu trên thế giới đối với dòng vốn FDI.
Hiện khu vực FDI đóng góp khoảng 75% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, vốn FDI đăng ký mới đạt khoảng 17,39 tỷ USD, tăng 87,2% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế.
“Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng nhìn nhận mô hình thu hút FDI để thúc đẩy xuất khẩu có những giới hạn nhất định. Giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi thu hút vốn đầu tư mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn từ dòng vốn đó”, ông Richard Barnsley bình luận.
Theo ông Richard Barnsley, tham vọng ấy được thể hiện rõ trong Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, ban hành ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết đưa ra một tầm nhìn mới cho FDI trong giai đoạn được gọi tên Đổi mới 2.0. Nếu chương đầu là câu chuyện thu hút những cánh chim bay về thì chương tiếp theo là khuyến khích những đàn chim đó ở lại làm tổ.
Chuyên gia của HSBC cho rằng, điểm nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW là sự thay đổi trong tư duy phát triển FDI. Nếu trước đây thành công chủ yếu được đo bằng quy mô vốn đăng ký hoặc số lượng dự án, thì trong giai đoạn tới, hiệu quả của FDI sẽ được đánh giá thông qua khả năng chuyển giao công nghệ, phát triển hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Định hướng này được cụ thể hóa bằng các mục tiêu đầy tham vọng trong giai đoạn 2025-2030. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký mới, giải ngân 150-200 tỷ USD; trong đó khoảng 75% dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng hướng tới việc đưa 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI và thu hút ít nhất ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở khu vực hoặc trung tâm R&D tại Việt Nam.
Theo ông Richard Barnsley, những mục tiêu này phản ánh định hướng phát triển mới của Việt Nam; trong đó FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn mà còn đóng vai trò thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và tạo động lực phát triển cho khu vực doanh nghiệp trong nước.
Xây dựng hệ sinh thái đầu tư vững mạnh
Việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục là yêu cầu then chốt để thu hút vốn FDI. Ảnh minh họa: TTXVN
HSBC cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI toàn cầu đang bước sang giai đoạn mới. Trên thế giới, các ưu đãi tài chính truyền thống đang dần kém hiệu quả khi các quốc gia cạnh tranh để thu hút những dòng vốn có chất lượng ngày càng cao. Việt Nam không thể và không nên mãi kỳ vọng vào khả năng cạnh tranh dựa trên các lợi thế truyền thống, đặc biệt là chỉ dựa vào chi phí lao động.
Các nhà đầu tư chiến lược ngày nay ngày càng coi trọng chất lượng thể chế, khả năng dự báo chính sách, năng lực của lực lượng lao động và tốc độ triển khai cải cách của Chính phủ. Năng suất, tự động hoá và đổi mới sáng tạo ngày càng quan trọng hơn so với mức lương theo giờ.
Vì vậy, ở nhiều khía cạnh, Nghị quyết số 10-NQ/TW phản ánh sự chuyển dịch từ ưu đãi sang thể chế.
Sự chuyển dịch này càng có ý nghĩa trong bối cảnh bất định địa chính trị, mô hình thương mại toàn cầu đang thay đổi và trí tuệ nhân tạo tăng tốc nhanh chóng. Khi doanh nghiệp tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, họ tìm kiếm những điểm đến đầu tư có khả năng chống chịu, có tính dự báo và được dẫn dắt bởi đổi mới. Thể chế vững mạnh đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh giá trị nhất mà một quốc gia có thể mang lại.
Dù dư địa thu hút FDI còn lớn, song HSBC cũng cho rằng Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục là yêu cầu then chốt, trong khi số doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn còn hạn chế.
Bên cạnh đó, mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên và nhà nghiên cứu, trong bối cảnh nhiều quốc gia trong khu vực cũng đang cạnh tranh quyết liệt để thu hút các nhà đầu tư chiến lược.
Theo ông Richard Barnsley, điểm tích cực là Nghị quyết số 10-NQ/TW đã nhận diện rõ những thách thức này và đưa ra định hướng xử lý. Thay vì tập trung vào các ưu đãi truyền thống, Nghị quyết ưu tiên cải cách thể chế, khuyến khích hỗ trợ dựa trên kết quả thực chất như hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực doanh nghiệp.
Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh nâng cao năng lực của các nhà cung ứng trong nước thông qua đào tạo, hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng và cải thiện quản trị. Đây là những yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn của tập đoàn đa quốc gia và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
“Thành công của Việt Nam trong bốn thập kỷ qua được xây dựng trên tinh thần cởi mở, thực tiễn và cam kết cải cách bền bỉ. Nghị quyết 10-NQ/TW đã cho thấy những phẩm chất ấy vẫn được giữ vững theo thời gian. Mục tiêu giờ đây không còn đơn thuần là thu hút thêm những cánh chim mới, điều Việt Nam hướng tới là xây dựng một hệ sinh thái nơi nhà đầu tư lựa chọn ở lại, đổi mới và phát triển, cùng tạo nên một cánh rừng vững mạnh hơn để cả nhà đầu tư quốc tế lẫn doanh nghiệp Việt Nam có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng”, chuyên gia của HSBC bình luận.