Kinh tế tư nhân - Bài 2: Gỡ điểm nghẽn để khơi thông nguồn lực tăng trưởng

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng hoạt động.

Tuy nhiên, trước áp lực chi phí đầu vào, vốn, thị trường và những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó trong phục hồi, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh. Thực tế đó đặt ra yêu cầu chuyển hoá từ thực hiện chính sách sang tổ chức thực thi hiệu quả, hỗ trợ đúng nhu cầu và tạo động lực để doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững, tạo động lực bứt phá cho TP Hồ Chí Minh hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.

Chính sách mở đường, doanh nghiệp vẫn chưa hết khó

kttn3.jpg
Ứng dụng công nghệ trong sản xuất chế biến tôm tại Tập đoàn thủy sản Minh Phú. Ảnh: Tuấn Phi/TTXVN

Khu vực kinh tế tư nhân đang có thêm cơ hội phát triển từ các chủ trương, chính sách mới, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tại TP Hồ Chí Minh, nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, thúc đẩy quản lý số và tháo gỡ vướng mắc đã góp phần cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận và tận dụng chính sách vẫn còn hạn chế, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn lực và sức chống chịu còn yếu.

Ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh thông tin, theo số liệu chính thức, thành phố hiện có khoảng 297.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang phải đối mặt với nhiều sức ép cùng lúc, từ giá nguyên vật liệu đầu vào tăng cao do giá dầu thế giới biến động đến nhu cầu tại thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ suy giảm khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu.

Bên cạnh những khó khăn về thị trường, doanh nghiệp còn chịu áp lực từ mức thuế bổ sung theo Điều 301 của Luật Thương mại Mỹ đối với hàng hóa Việt Nam ở mức 12,5%, cao hơn mức phổ biến 10% tại các nước còn lại trong khu vực. Chi phí vốn tăng cao, khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế, chi phí lao động tăng nhanh và tình trạng thiếu hụt nhân lực cũng làm gia tăng gánh nặng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo ông Mai Hữu Tín, số doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn hiện nay không nhiều. Mặt bằng lãi suất trong nước cao khiến các quyết định đầu tư mới tiềm ẩn rủi ro lớn, trong khi doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh với các đối thủ đến từ những thị trường có chi phí vốn thấp hơn. Ví dụ cụ thể là trường hợp doanh nghiệp Trung Quốc chỉ chịu mức lãi suất khoảng 3%, chênh lệch về chi phí tài chính có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.

Ở góc độ doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Việt Thắng Jean, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam cho rằng, một trong những hạn chế căn bản của khu vực kinh tế tư nhân là phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực liên kết còn yếu và khả năng tiếp cận vốn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển. Nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, dòng tiền chưa ổn định nên khó vay vốn để mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và đổi mới phương thức quản trị. Trong khi đó, chi phí hoạt động gia tăng, sức mua chưa phục hồi mạnh khiến doanh nghiệp phải cân đối nguồn lực cho những nhu cầu trước mắt, thay vì dành vốn cho các kế hoạch phát triển dài hạn.

“Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng chưa chặt chẽ cũng là một điểm hạn chế. Nhiều đơn vị vẫn hoạt động riêng lẻ, chưa hình thành được hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh đủ mạnh để chia sẻ nguồn lực, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo ngày càng tác động đến phương thức sản xuất, những doanh nghiệp chậm đổi mới công nghệ sẽ gặp thêm bất lợi trong việc nâng cao năng suất và đáp ứng yêu cầu của thị trường”, ông Phạm Văn Việt nhận xét.

Bên cạnh khó khăn về vốn và năng lực nội tại, sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi tiêu dùng cũng đặt ra yêu cầu thích ứng cấp thiết đối với doanh nghiệp. Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Doanh nhân Sài Gòn, cho biết người tiêu dùng đang chuyển mạnh từ phương thức mua sắm truyền thống sang tiêu dùng số và mua hàng trực tuyến.

Xu hướng này buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh cách tiếp cận khách hàng, tổ chức bán hàng và vận hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nhân lực, công nghệ và năng lực quản trị để thực hiện chuyển đổi. Những đơn vị nhỏ cần được hỗ trợ thông qua các chương trình tập huấn, hướng dẫn và chính sách phù hợp, giúp họ từng bước thích ứng với phương thức kinh doanh mới.

Nhìn từ những khó khăn trên, thách thức đối với kinh tế tư nhân TP Hồ Chí Minh không chỉ nằm ở việc duy trì hoạt động trong bối cảnh chi phí tăng, mà còn ở năng lực chuyển đổi để nắm bắt cơ hội phát triển. Nếu không cải thiện được khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, lao động và thị trường, doanh nghiệp khó nâng cao quy mô, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tạo sức bật cho tăng trưởng trong dài hạn.

Từ ban hành chính sách đến hỗ trợ thực chất

kttn4.jpg
Công ty CP thiết bị và giải pháp cơ khí AUTOMECH (KCN Đình Trám, Bắc Ninh) doanh thu mỗi năm khoảng 1.000 tỷ đồng đang tạo việc làm cho hơn 600 lao động. Ảnh: Trần Việt/TTXVN

Một trong những chuyển biến được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận là nỗ lực cải cách thủ tục hành chính, giảm các thủ tục không cần thiết. Việc đẩy mạnh quản lý số cũng góp phần minh bạch hóa quy trình, hạn chế những chi phí không đáng có. Theo ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đối với kinh tế tư nhân, cùng những điều chỉnh về quy định và pháp luật đang tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả thụ hưởng chính sách vẫn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, từ khả năng đáp ứng yêu cầu đến mức độ chủ động tìm kiếm và sử dụng nguồn lực hỗ trợ.

Đối với các chính sách thuế, ông Lư Nguyễn Xuân Vũ cho rằng, cần tiếp tục duy trì những giải pháp có khả năng hỗ trợ trực tiếp dòng tiền và tạo dư địa để doanh nghiệp đầu tư trở lại. Trong đó, chính sách giảm 2% thuế giá trị gia tăng, đưa thuế suất xuống 8%, cần được xem xét kéo dài nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn nhiều biến động. Cùng với đó, cần có chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp để doanh nghiệp giữ lại nguồn lực cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và thích ứng với biến động thị trường.

Ông Mai Hữu Tín cho rằng, cần nhìn nhận đúng thực tế rằng nhiều doanh nghiệp vẫn đang cố gắng phục hồi, chưa thể tính đến đầu tư mới. Trong hoàn cảnh đó, mỗi đồng vốn có được đều rất quý, góp phần giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và từng bước ổn định sản xuất, kinh doanh. Dù vậy, hiệu quả hỗ trợ không chỉ được quyết định bởi số lượng chính sách được ban hành, mà còn bởi mức độ thuận lợi khi doanh nghiệp tiếp cận và thực hiện.

“Chính sách hiện nay đều rất tốt, nhưng hiệu quả phụ thuộc ở cách các cơ quan chức năng hiểu và thực thi trong thực tế. Khi việc áp dụng quy định chưa thống nhất, doanh nghiệp phải chờ hướng dẫn, giải thích từ cơ quan ban hành, kéo theo thời gian và chi phí phát sinh. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là không chỉ tiếp tục hoàn thiện thể chế mà còn phải nâng cao hiệu quả thực thi, bảo đảm quy định được hiểu và áp dụng thống nhất, kịp thời”, ông Mai Hữu Tín nhấn mạnh.

Ông Phạm Văn Việt thì cho rằng, cần phát triển khu vực kinh tế tư nhân theo hướng nâng cao năng lực nội tại, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng và tăng khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Để đạt mục tiêu phát triển 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 và hình thành khoảng 20 doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, chính sách cần được xây dựng trên cơ sở lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư công nghệ, tự động hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nâng cao năng suất lao động.

Với nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu, tham mưu chính sách, ông Phạm Bình An, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP Hồ Chí Minh, cho rằng việc triển khai thực thi chính sách cần chuyển từ cách tiếp cận hành chính sang đồng hành, hướng dẫn doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn. Chính sách hỗ trợ thuế chỉ phát huy tác dụng đầy đủ khi doanh nghiệp có hoạt động tạo doanh thu, lợi nhuận hoặc đủ khả năng duy trì sản xuất.

Đối với những đơn vị đang thiếu vốn, đơn hàng hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng, việc giảm nghĩa vụ thuế cần được đặt trong tổng thể các giải pháp hỗ trợ về dòng tiền, chi phí đầu vào và thị trường. Chính quyền cơ sở, ngân hàng và các đơn vị liên quan không nên chỉ dừng ở việc xem xét điều kiện vay vốn, mà cần hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, đáp ứng tiêu chí tiếp cận tín dụng và tìm giải pháp phù hợp với tình hình thực tế.

Ông Phạm Bình An đề xuất tiếp tục giảm chi phí tuân thủ trong các lĩnh vực đất đai, phòng cháy, chữa cháy, môi trường và thuế. Việc kiểm tra, quản lý cần gắn với hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ quy định, đồng thời thường xuyên rà soát, cắt giảm những thủ tục, điều kiện kinh doanh không cần thiết. Một yêu cầu xuyên suốt của cơ quan thực thi chính sách là phải lượng hoá hiệu quả bằng kết quả cụ thể, thiết thực như giảm bao nhiêu thời gian giải quyết hồ sơ, chi phí tuân thủ; số doanh nghiệp tiếp cận được vốn, mở rộng quy mô và nâng cao năng suất tăng bao nhiêu. Về phía doanh nghiệp, cũng cần tăng cường liên kết theo ngành hàng, địa bàn và thông qua các hiệp hội để chia sẻ nguồn lực, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Các doanh nghiệp và chuyên gia đều cho rằng, phát triển doanh nghiệp tư nhân không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp, mà còn phải nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực quản trị, khả năng liên kết và sức cạnh tranh. Đó là cơ sở để TP Hồ Chí Minh củng cố nội lực nền kinh tế, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước biến động bên ngoài và đóng góp bền vững hơn cho mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới.

Bài 3: Sẵn sàng nguồn lực, tạo bứt phá để cán đích mục tiêu

Xuân Anh/TTXVN

Dành cho bạn

Hà Tĩnh lên kế hoạch đại tu Quốc lộ 1A

Hà Tĩnh lên kế hoạch đại tu Quốc lộ 1A

Sau đề xuất của tỉnh Hà Tĩnh và Cục đường bộ Việt Nam, Chi nhánh BOT tuyến tránh Vinh (thuộc Công ty Cổ phần Tập đoàn Cienco4) có kế hoạch khắc phục hư hỏng tuyến Quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Hà Tĩnh.

Bảo đảm nguồn cung thực phẩm cuối năm

Bảo đảm nguồn cung thực phẩm cuối năm

Ngành nông nghiệp và môi trường dự báo, những tháng cuối năm và dịp Tết Nguyên đán là thời điểm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi tăng mạnh từ 10 - 15% so với các tháng thông thường.