Khi quyền tiếp cận thông tin được số hóa

Chuyển đổi số đang mở thêm những cách thức để người dân tiếp cận chính sách, thủ tục hành chính và thông tin thiết yếu.

Tại Quảng Trị, từ hệ thống dữ liệu cấp tỉnh đến các Tổ công nghệ số cộng đồng ở từng thôn, một chuỗi kết nối đang dần hình thành. Nhưng có dữ liệu chưa đồng nghĩa người dân tiếp cận được thông tin, có nền tảng số cũng chưa đồng nghĩa người dân có thể sử dụng. Khoảng cách ấy đang đặt ra yêu cầu đưa quyền tiếp cận thông tin từ hệ thống số vào thực chất đời sống.

Người dân được cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phong Nha hỗ trợ thực hiện hồ sơ dịch vụ công trực tuyến. Hiện khoảng 98% hồ sơ dịch vụ công tại Trung tâm được thực hiện trực tuyến, song phần lớn vẫn cần cán bộ hỗ trợ tại quầy.
Người dân được cán bộ Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phong Nha hỗ trợ thực hiện hồ sơ dịch vụ công trực tuyến. Hiện khoảng 98% hồ sơ dịch vụ công tại Trung tâm được thực hiện trực tuyến, song phần lớn vẫn cần cán bộ hỗ trợ tại quầy.

Từ dữ liệu đến minh bạch

Tại Trung tâm Điều hành Thông tin tỉnh Quảng Trị, chuyển đổi số đang làm thay đổi cách thông tin chính thống được công khai và đưa đến người dân.

Ông Lê Hoàng, Giám đốc Trung tâm Điều hành Thông tin tỉnh cho biết, đơn vị hiện vận hành Cổng thông tin điện tử tỉnh, hệ thống quản lý văn bản điều hành, theo dõi nhiệm vụ Chính phủ và tỉnh giao, hội nghị truyền hình trực tuyến từ Trung ương đến cấp xã. Công báo đang chuyển từ bản in sang môi trường điện tử; thông tin chính sách được truyền tải qua Fanpage, Zalo OA, YouTube, TikTok. Trí tuệ nhân tạo cũng được ứng dụng để chuyển văn bản thành podcast, video ngắn, tạo thêm cách tiếp cận thông tin.

Đáng chú ý, hệ thống “Tiếp cận thông tin” có khả năng tích hợp, chia sẻ danh mục thông tin công khai từ cấp tỉnh xuống xã, phường; kết nối với hệ thống quản lý văn bản để đưa những văn bản thuộc diện công khai lên Cổng thông tin điện tử.

Theo ông Lê Hoàng, hệ thống được thiết kế vận hành độc lập, hạn chế gián đoạn dữ liệu, bảo đảm tính kịp thời và giá trị pháp lý của văn bản ký số. Mục tiêu đến cuối tháng 11/2026 hoàn thành triển khai cho 14 sở, ban, ngành; quản trị viên của 78 xã, phường đã được tập huấn.

Tuy nhiên, có dữ liệu trên môi trường số chưa đồng nghĩa đã có sự minh bạch thực chất. Thông tin phải được phân loại, xử lý những nội dung nhạy cảm trước khi công khai. Phía sau mỗi văn bản được đưa lên hệ thống vẫn là trách nhiệm của người tạo lập, cung cấp thông tin. Thông tin chỉ thực sự có giá trị khi được công khai đúng quy định, cập nhật đầy đủ và người dân có thể tìm thấy, hiểu, sử dụng.

Cán bộ Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị tập huấn kỹ năng chuyển đổi số cho các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha.
Cán bộ Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị tập huấn kỹ năng chuyển đổi số cho các thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha.

Ông Trần Diễm Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị cho biết, Dự án “Tăng cường tiếp cận thông tin thông qua chuyển đổi số trong quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” do Oxfam tài trợ được triển khai tại tỉnh từ tháng 11/2024 đến tháng 10/2026 và đang làm thủ tục xin gia hạn đến tháng 3/2027.

Thông qua dự án, địa phương được hỗ trợ nâng cao năng lực thực hiện quyền tiếp cận thông tin, chuẩn hóa chuyên mục “Tiếp cận thông tin” và tăng khả năng tương tác giữa người dân với chính quyền trên môi trường số. Đến nay, chuyên mục được triển khai trên 78 xã, phường thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh, tạo thêm kênh để người dân tra cứu thông tin công khai và gửi yêu cầu cung cấp thông tin trực tuyến.

Nhưng giá trị của dữ liệu không dừng ở việc người dân có thể đọc hay tra cứu. Một bước xa hơn là người dân sử dụng môi trường số để lên tiếng về những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và quyền lợi của mình.

Bà Đoàn Thị Hoài An, Trưởng Phòng Giám sát, điều hành thông minh, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị cho biết, phản ánh của người dân được tiếp nhận, phân loại và chuyển đến cơ quan liên quan. Kết quả xử lý phải được thể hiện bằng văn bản, cam kết hoặc kiểm tra thực tế, trường hợp chậm trễ phải làm rõ nguyên nhân.

Riêng tháng 9/2026, hệ thống tiếp nhận 350 phản ánh, trong đó 135 phản ánh về an ninh trật tự, an toàn giao thông; 76 phản ánh về vệ sinh, môi trường; 115 phản ánh về xây dựng, trật tự đô thị và 24 phản ánh thuộc các vấn đề kinh tế, xã hội khác. Có 232 phản ánh đã được xử lý, trả kết quả, trong đó một phản ánh quá hạn.

Có những phản ánh trên môi trường số đã dẫn đến hành động ngoài thực địa. Ngày 21/9, sau phản ánh về rác thải gây ô nhiễm tại một nhà hàng ở phường Ba Đồn, chính quyền kiểm tra, lập biên bản vi phạm và yêu cầu khắc phục. Ngày 24/9, tại phường Đồng Thuận, phản ánh về việc chậm di dời các kết cấu bê tông, hố ga trên đất của một hộ dân cũng được kiểm tra, xử lý, sau đó, các hố ga được di dời và người dân đánh giá hài lòng.

Một buổi sinh hoạt và tập huấn của Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha.
Một buổi sinh hoạt và tập huấn của Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha.

Từ công khai thông tin, tiếp nhận phản ánh đến xử lý và trả kết quả đang hình thành một chuỗi tương tác. Ở đó, người dân không chỉ là người nhận thông tin mà có thêm công cụ để phản ánh, theo dõi việc xử lý, qua đó, tham gia giám sát trách nhiệm của cơ quan công quyền.

Đưa thông tin về tận thôn

Nếu các hệ thống số tạo ra “đường đi” của thông tin, tại cơ sở, câu hỏi đặt ra là thông tin có đi hết con đường ấy để đến được từng người dân hay không. Đây cũng là một hướng được dự án “Tăng cường tiếp cận thông tin thông qua chuyển đổi số trong quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” tập trung triển khai.

Tại Phong Nha và Bố Trạch, các hoạt động làm việc, tham vấn với chính quyền cơ sở, Tổ công nghệ số cộng đồng và người dân được tổ chức nhằm góp ý, hoàn thiện chuyên mục “Tiếp cận thông tin”, đồng thời hỗ trợ kỹ năng sử dụng nền tảng số. Ý kiến của người trực tiếp sử dụng được ghi nhận theo hướng để thông tin dễ hiểu, dễ tìm kiếm, phù hợp hơn với kỹ năng và thói quen của người dân.

Ghi nhận của phóng viên TTXVN tại thôn Ngọn Rào (xã Phong Nha) cho thấy, khoảng cách giữa nền tảng số và người sử dụng được thu hẹp từ những việc rất cụ thể: Cài ứng dụng, kích hoạt tài khoản định danh điện tử, tích hợp giấy tờ hay hướng dẫn người dân tìm kiếm thông tin chính thống.

Ông Nguyễn Xuân Tuấn, Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào cho biết, tổ có 12 thành viên. Thời gian qua, các thành viên hỗ trợ người dân cài Quảng Trị S, đăng ký, kích hoạt VNeID mức độ 2, tích hợp bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cùng các giấy tờ cần thiết. Tỷ lệ kích hoạt định danh điện tử trong thôn đạt trên 95%.

Cán bộ Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị hướng dẫn thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha sử dụng các nền tảng số.
Cán bộ Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Trị hướng dẫn thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha sử dụng các nền tảng số.

Thông tin địa phương cũng được chuyển tải qua các nhóm Zalo cộng đồng, mạng xã hội bên cạnh loa truyền thanh, họp thôn. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Xuân Tuấn, cài được ứng dụng mới chỉ là bước đầu. Không ít người cao tuổi, người làm nông nghiệp quên mật khẩu hoặc chưa quen thao tác trên điện thoại thông minh, khi cần sử dụng vẫn phải nhờ thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng.

Hạ tầng cũng chưa đồng đều. Nhà văn hóa thôn đã có máy tính, Internet nhưng một số khu vực sóng điện thoại, 3G, 4G hoặc Wi-Fi còn yếu. Có nền tảng, thiết bị nhưng người dân vẫn khó tiếp cận nếu thiếu đường truyền hoặc kỹ năng.

Chị Ngô Thị Ngọc Diệp, người dân thôn Ngọn Rào cho biết, trước đây, nhiều người chưa biết tích hợp bảo hiểm y tế và giấy tờ vào VNeID. Cán bộ xã cùng Tổ công nghệ số cộng đồng đã hướng dẫn trực tiếp, qua nhiều lần thực hành, người dân dần quen với VNeID, Quảng Trị S và các kênh thông tin địa phương.

Câu chuyện ở thôn Ngọn Rào cho thấy, Tổ công nghệ số cộng đồng không chỉ giúp cài một ứng dụng mà còn làm nhiệm vụ kết nối hệ thống số với những người chưa đủ kỹ năng để tự tiếp cận.

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Phong Nha Trần Hương Lâm, địa bàn xã rộng, bị chia cắt bởi đồi núi, sông, hồ. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xã còn 19 thôn, bản; 18/18 thôn được trang bị máy tính, máy in và Wi-Fi. Riêng khu vực Rào Con, việc tiếp cận, sử dụng máy tính còn khó khăn, địa phương đang tìm giải pháp mở rộng điện và vùng phủ sóng thông tin di động.

Tại xã Bố Trạch, bà Lê Thị Thu Huyền, Trưởng Phòng Văn hóa xã cho biết, địa phương đã hỗ trợ 17 bộ máy tính, máy in và Internet miễn phí trong một năm cho 17 thôn, thành lập 17 Tổ công nghệ số cộng đồng với 88 thành viên.

Thông tin được chuyển tải qua cổng thông tin điện tử, Fanpage, Zalo, nhóm Zalo thôn, hệ thống truyền thanh, niêm yết công khai, họp dân và đối thoại trực tiếp. Khi người dân đặt câu hỏi trên Fanpage, nội dung được chuyển đến bộ phận chuyên môn trả lời công khai.

Việc duy trì nhiều kênh là cần thiết bởi khả năng tiếp cận công nghệ của mỗi nhóm dân cư khác nhau. Người trẻ có thể tìm thông tin trên mạng; người cao tuổi, người ít sử dụng điện thoại thông minh vẫn cần loa truyền thanh, họp thôn và hướng dẫn trực tiếp. Vì vậy, đưa thông tin về tận thôn không chỉ là có Internet hay thêm một nhóm Zalo mà phải bảo đảm những người hạn chế về thiết bị, kỹ năng và kết nối không đứng ngoài dòng thông tin số.

Từ “làm hộ” đến “tự làm được”

Máy tính, máy in và kết nối Internet tại nhà văn hóa thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha góp phần hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và các dịch vụ trên môi trường số.
Máy tính, máy in và kết nối Internet tại nhà văn hóa thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha góp phần hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và các dịch vụ trên môi trường số.

Một con số tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Phong Nha cho thấy rõ hơn khoảng cách giữa kết quả chuyển đổi số trên hệ thống với khả năng sử dụng thực tế của người dân: Khoảng 98% hồ sơ dịch vụ công được thực hiện trực tuyến.

Ông Nguyễn Phương Nam, Giám đốc Trung tâm cho biết, tỷ lệ giải quyết trước hạn đạt 99%, đúng hạn đạt 91%; mức độ hài lòng của người dân trên 80%. Tuy nhiên, phần lớn hồ sơ trực tuyến vẫn được cán bộ hỗ trợ người dân thực hiện ngay tại quầy. Số người có thể tự chuẩn bị và nộp hồ sơ trực tuyến tại nhà còn hạn chế.

Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao vì vậy chưa đồng nghĩa với khả năng độc lập sử dụng dịch vụ công của người dân. Một số thủ tục liên quan đất đai còn vướng trong phối hợp, xác nhận thông tin, có nội dung xác nhận ở cấp thôn chưa được số hóa.

Theo ông Nguyễn Phương Nam, tập huấn cho Tổ công nghệ số cộng đồng không thể chỉ dừng ở hướng dẫn thao tác trên máy tính, điện thoại. Thành viên phải biết thủ tục thực hiện ở đâu, cần điều kiện gì, liên hệ bộ phận nào và tiếp nhận phản ánh của người dân ra sao.

Mục tiêu không đơn thuần là tạo ra nhiều hồ sơ trực tuyến mà phải chuyển dần từ cán bộ “làm hộ” sang hướng dẫn để người dân “tự làm được”. Khi người dân có thể tự tìm hiểu thủ tục, chuẩn bị hồ sơ, thực hiện dịch vụ công và theo dõi kết quả, chuyển đổi số mới tạo ra thay đổi thực chất.

Phó Chủ tịch UBND xã Phong Nha Trần Hương Lâm cho biết, trước đây, khi có vấn đề cần phản ánh, người dân thường gọi điện cho lãnh đạo hoặc đăng trên Facebook. Chính quyền đang hướng dẫn người dân nhận biết các kênh chính thức, xác định đúng cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý. Các Tổ công nghệ số cộng đồng được kiện toàn, bổ sung lực lượng trẻ để nâng cao khả năng hỗ trợ tại cơ sở.

Bà Nguyễn Thị Kim Thoa, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) cho rằng, cơ quan tạo ra thông tin có trách nhiệm công khai qua cổng thông tin điện tử hoặc hình thức phù hợp. Với người dân vùng xa, người khuyết tật và những nhóm khó sử dụng công nghệ, thông tin cần được cung cấp bằng nhiều hình thức như, loa truyền thanh, tờ rơi, sổ tay, Zalo, Messenger hay họp thôn.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Thoa, Tổ công nghệ số cộng đồng có vai trò đưa thông tin chính thống trực tiếp đến người dân, nhất là những người khó tự tiếp cận nền tảng số, giúp họ không đứng ngoài quá trình chuyển đổi số.

Người dân thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha được hướng dẫn sử dụng các nền tảng số, từng bước nâng cao khả năng tự tiếp cận và sử dụng thông tin.

Người dân thôn Ngọn Rào, xã Phong Nha được hướng dẫn sử dụng các nền tảng số, từng bước nâng cao khả năng tự tiếp cận và sử dụng thông tin.

Toàn tỉnh Quảng Trị hiện có 78 xã, phường được xây dựng chuyên mục tiếp cận thông tin và 917 Tổ công nghệ số cộng đồng với khoảng 9.550 thành viên. Tuy nhiên, giá trị của mạng lưới không chỉ nằm ở số lượng tổ, tài khoản hay hồ sơ trực tuyến.

Thực tế tại thôn Ngọn Rào và xã Phong Nha cho thấy, một người cao tuổi vẫn cần hỗ trợ khi quên mật khẩu, một người dân vẫn đến Trung tâm Phục vụ hành chính công vì chưa tự tin nộp hồ sơ tại nhà, người ở khu vực xa trung tâm vẫn có thể gặp khó khăn về kết nối. Đó là khoảng cách giữa có nền tảng số và thực sự làm chủ nền tảng số.

Vì vậy, số hóa quyền tiếp cận thông tin không thể chỉ đo bằng lượng dữ liệu đưa lên mạng, số tài khoản được kích hoạt hay tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Thước đo thực chất hơn là người dân có tìm được, hiểu được, sử dụng được và phản hồi được thông tin hay không.

Từ văn bản công khai đến một phản ánh dẫn tới kiểm tra ngoài thực địa, từ một tài khoản được kích hoạt đến khả năng tự thực hiện dịch vụ công là những bước khác nhau của cùng một hành trình. Khi người dân không chỉ nhận thông tin mà có thể sử dụng thông tin để giải quyết công việc, phản ánh và giám sát những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình, quyền tiếp cận thông tin mới thực sự được số hóa và đi vào đời sống.

Bài và ảnh: Tá Chuyên/TTXVN

Dành cho bạn

Việt - Nhật mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Việt - Nhật mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Theo phóng viên TTXVN tại Tokyo, trong khuôn khổ chuyến công tác tại Nhật Bản ngày 2/10, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân có các cuộc làm việc với Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản, Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản; dự Diễn đàn Công nghệ số Việt Nam - Nhật Bản 2026 và làm việc với Đại học Tokyo.

Đại học Manchester và hành trình biến nghiên cứu thành 11 startup

Đại học Manchester và hành trình biến nghiên cứu thành 11 startup

Từ phòng thí nghiệm đến thị trường, Đại học Manchester đã góp phần hình thành 11 startup trong 11 năm, cho thấy vai trò của các trường đại học trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Kinh nghiệm này cũng gợi mở hướng kết nối chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.