Gắn nghiên cứu với sản xuất trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp. Về những điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực công nghệ và thu hút đầu tư chất lượng cao, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Tấn Đức, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Tập đoàn Becamex để làm rõ vấn đề này.
Thưa ông, từ những trao đổi với các nhà đầu tư và đối tác quốc tế, ông nhận thấy yêu cầu đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam đang thay đổi như thế nào?
Các đối tác đến từ nhiều lĩnh vực gồm quỹ đầu tư, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức phát triển quốc tế và giới chuyên gia khoa học, công nghệ. Qua trao đổi, tôi nhận thấy sự quan tâm đối với Việt Nam đang mở rộng sang hoạt động nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ và hợp tác giữa viện, trường với doanh nghiệp.
Điều này đặt ra yêu cầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ ngay tại Việt Nam. Từ kinh nghiệm phát triển hạ tầng công nghiệp, khoảng 10 năm qua, Becamex đã từng bước xây dựng nền tảng cho hệ sinh thái công nghiệp thế hệ mới, trong đó có cơ sở vật chất và dịch vụ dùng chung, giúp doanh nghiệp tiếp cận hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới công nghệ.
Mặt khác, việc đầu tư vào khoa học, công nghệ cần nguồn lực lớn và thời gian dài, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp thường chưa đủ khả năng tự xây dựng phòng thí nghiệm hay cơ sở thử nghiệm. Việc sử dụng hạ tầng và dịch vụ dùng chung giúp họ giảm chi phí đầu tư ban đầu, đồng thời mở thêm cơ hội kết nối với doanh nghiệp lớn để thử nghiệm công nghệ và tìm kiếm những khách hàng đầu tiên.
Thêm vào đó, nhu cầu đổi mới công nghệ còn đến từ các doanh nghiệp sản xuất đã hoạt động nhiều năm tại Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu mới, họ cần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và tay nghề của người lao động. Vì vậy, các trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ cần hướng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm vào giải quyết những nhu cầu cụ thể này, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất.
Đối với nhà đầu tư tiềm năng, nhất là trong lĩnh vực bán dẫn, họ sẽ tìm hiểu khả năng đáp ứng của đội ngũ kỹ sư, người lao động có kỹ năng và các cơ sở hỗ trợ công nghệ. Năng lực thường xuyên cập nhật, cải tiến quy trình và sản phẩm là yếu tố cốt lõi đối với những doanh nghiệp này. Muốn tham gia sâu hơn vào các hoạt động có giá trị gia tăng cao trong chuỗi toàn cầu, chúng ta phải đầu tư bài bản cho con người, quản trị và năng lực công nghệ.
Các yêu cầu phát triển bền vững đang tác động ra sao đến việc lựa chọn địa điểm đầu tư, thưa ông?
Từ góc độ nhà phát triển hạ tầng công nghiệp, chúng tôi nhận thấy phát triển bền vững gắn với sự chuyển dịch của cả chuỗi giá trị. Một số doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn, đặt mục tiêu xanh hóa chuỗi cung ứng. Khi lựa chọn địa điểm đầu tư, họ xem xét khả năng đáp ứng các cam kết về phát thải ròng bằng 0, trung hòa carbon và những yêu cầu liên quan đến môi trường.
Vì vậy, năng lực cung cấp hạ tầng phục vụ sản xuất bền vững ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến sức hấp dẫn của điểm đến đầu tư. Becamex đã làm việc với Ngân hàng Thế giới về mô hình khu công nghiệp sinh thái, sau đó với Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) để triển khai các nội dung cụ thể tại Việt Nam.
Một hướng chuẩn bị là tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận năng lượng tái tạo, đa dạng hóa nguồn cung và từng bước tăng tỷ trọng nguồn năng lượng này trong điện cung cấp cho nhà đầu tư. Cùng với đó là các giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả và tuần hoàn tài nguyên trong hoạt động sản xuất.
Phát triển bền vững còn bao gồm những điều kiện phục vụ người lao động. Bên cạnh hạ tầng kỹ thuật, cần quan tâm nhà ở xã hội, dịch vụ và nhu cầu an sinh để người lao động yên tâm làm việc, gắn bó lâu dài. Các yếu tố về môi trường sản xuất và đời sống cần được xem xét trong cùng một quá trình phát triển.
Sự chuẩn bị này gắn với mục tiêu tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Để mở rộng sang các công đoạn chế tạo, chế biến sâu, chúng ta cần năng lực kỹ thuật, đội ngũ kỹ sư và điều kiện vận hành phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Hạ tầng xanh và năng lực công nghệ vì thế phải được phát triển đồng bộ.
Hạ tầng nghiên cứu dùng chung tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thiết bị, thử nghiệm và phát triển công nghệ.
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57, không gian phát triển mới của TP Hồ Chí Minh sau sáp nhập tạo thêm cơ hội gì để kết nối nghiên cứu với sản xuất, thưa ông?
Việc sáp nhập TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu tạo ra dư địa phát triển lớn. Đô thị khoa học công nghệ ở phía Bắc Thành phố có điều kiện liên kết với trung tâm tài chính, các cảng hàng không quốc tế, hệ thống logistics và cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải. Sự kết nối này tạo cơ hội hình thành các cực tăng trưởng bổ sung cho nhau, trong đó có cực tăng trưởng gắn với nghiên cứu và sản xuất công nghệ cao.
Hoạt động của các cơ sở nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cũng có thể phục vụ doanh nghiệp tại Tây Ninh, Đồng Nai và những địa phương lân cận. Đây là điều kiện cần thiết khi xem xét hiệu quả đầu tư vào hạ tầng công nghệ dùng chung, bởi những cơ sở này cần có đủ nhu cầu sử dụng để duy trì hoạt động.
Chi phí cho một phòng thí nghiệm hay cơ sở nghiên cứu bao gồm cả đầu tư ban đầu, vận hành, duy trì phòng sạch, các chương trình nghiên cứu và đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Khi thị trường phục vụ lớn hơn, chúng ta có thêm cơ sở để đầu tư, đồng thời nâng hiệu suất sử dụng thiết bị và cơ sở vật chất.
Hạ tầng dùng chung giúp doanh nghiệp tiếp cận công nghệ
Đầu tư nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ đòi hỏi kinh phí lớn và thời gian dài. Theo ông Đặng Tấn Đức, các phòng thí nghiệm, trung tâm đổi mới sáng tạo và dịch vụ dùng chung có thể hỗ trợ doanh nghiệp ở ba khâu:
Thiết bị
Giảm chi phí đầu tư ban đầu, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.
Thử nghiệm
Có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu, kiểm chứng và từng bước hoàn thiện giải pháp công nghệ.
Kết nối
Tăng cơ hội hợp tác với viện, trường, doanh nghiệp lớn và tìm kiếm những khách hàng đầu tiên.
Hiệu quả đầu tư cần tính cả chi phí vận hành, duy trì đội ngũ chuyên môn và nhu cầu sử dụng thực tế. Đầu tư đi cùng vận hành và nhu cầu sử dụng
Một lợi thế khác là khả năng gắn hoạt động nghiên cứu với vành đai sản xuất đã hình thành qua nhiều năm. Doanh nghiệp có nhu cầu cải tiến thực tế, còn viện, trường có năng lực nghiên cứu và đào tạo. Kết nối được hai phía sẽ tạo điều kiện để khoa học, công nghệ giải quyết trực tiếp những vấn đề trong sản xuất.
Để hiện thực hóa cơ hội, cần kết nối nguồn lực và triển khai đồng bộ hạ tầng, nhân lực, chính sách khuyến khích nghiên cứu. Môi trường sống cũng có ý nghĩa đối với việc thu hút chuyên gia trong nước, quốc tế và người Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài. Họ cần một nơi có thể phát triển nghề nghiệp, tìm đối tác, tiếp cận thị trường và ổn định cuộc sống cùng gia đình.
Theo ông, những khâu nào trong thủ tục đầu tư cần được ưu tiên tháo gỡ để nâng sức cạnh tranh của Việt Nam?
Việt Nam đang cạnh tranh với nhiều quốc gia trong thu hút đầu tư công nghệ cao. Vì vậy, cần nhìn vào điều kiện của các nước trong khu vực và trên thế giới để đánh giá khả năng đáp ứng của mình. Trong đó, thủ tục hành chính là một nội dung cần được chú trọng, bởi thời gian có giá trị rất lớn đối với doanh nghiệp công nghệ.
Nhà đầu tư phải thực hiện nhiều thủ tục từ cấp phép đầu tư, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy đến quá trình vận hành. Theo tôi, cần thúc đẩy cơ chế một cửa để doanh nghiệp được hỗ trợ giải quyết các thủ tục có liên quan thông qua một đầu mối. Khả năng xử lý thông suốt sẽ giúp họ yên tâm hơn khi triển khai dự án.
Một khâu đặc biệt quan trọng là thủ tục hải quan, xuất nhập khẩu. Trong chuỗi cung ứng công nghệ cao, linh kiện, vật liệu và máy móc thường xuyên được luân chuyển qua biên giới. Một sản phẩm có thể trải qua nhiều công đoạn tại các quốc gia khác nhau; với bán dẫn, hoạt động chế tạo, đóng gói và các bước tiếp theo cũng có thể được thực hiện ở những địa điểm khác nhau.
Nếu các khâu này gặp vướng mắc, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và thu hút dự án mới sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, cải thiện thủ tục cần tính đến đặc điểm vận hành của từng ngành, nhất là những ngành có mức độ liên kết quốc tế cao.
Bên cạnh các tập đoàn lớn, chúng ta cần thu hút những nhà cung ứng linh kiện, vật tư và vật liệu. Nhiều đơn vị có quy mô nhỏ và vừa nhưng giữ vai trò quan trọng trong chuỗi sản xuất. Khi có mạng lưới cung ứng đủ năng lực, Việt Nam sẽ có nền tảng vững chắc hơn để tiếp nhận công nghệ và giữ chân nhà đầu tư. Một hệ sinh thái sản xuất có khả năng đáp ứng sẽ tạo thêm lý do để doanh nghiệp duy trì hoạt động lâu dài tại đây.
Nguồn nhân lực cần được chuẩn bị như thế nào để đáp ứng yêu cầu của hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao?
Điều quan trọng là phải hiểu nhu cầu của doanh nghiệp để xác định đúng những nhóm ngành và kỹ năng cần đào tạo. Chiến lược nhân lực cần được triển khai xuyên suốt, gắn với yêu cầu vận hành thực tế và những lĩnh vực Việt Nam muốn thu hút đầu tư.
Chẳng hạn với bán dẫn, nhu cầu nhân lực trải rộng từ thiết kế vi mạch đến tự động hóa, hóa chất, vật liệu, cơ điện tử, logistics và quản lý chuỗi cung ứng. Nếu chỉ tập trung vào một công đoạn, chúng ta sẽ chưa chuẩn bị đầy đủ cho hoạt động của cả ngành. Các chương trình đào tạo cần tính đến những nhóm chuyên môn hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất.
Đối với lĩnh vực trong nước chưa có đủ năng lực đào tạo, cần chủ động đưa sinh viên ra nước ngoài học tập và tích lũy kinh nghiệm làm việc. Đây là cách chuẩn bị nguồn nhân lực để khi những dự án và công nghệ mới được triển khai tại Việt Nam, họ có thể trở về tham gia.
Đồng thời, cần có môi trường để đội ngũ này phát huy chuyên môn. Các cơ sở nghiên cứu, trung tâm chuyển giao công nghệ và doanh nghiệp sản xuất phải được kết nối để nhân lực có thể tham gia giải quyết những bài toán cụ thể. Khi doanh nghiệp tìm được kỹ sư, chuyên gia phù hợp, còn người lao động có cơ hội phát triển nghề nghiệp, sự gắn kết sẽ bền vững hơn.
Hạ tầng, nguồn nhân lực và chính sách cần được chuẩn bị cùng nhau. Sự hội tụ đó giúp Việt Nam nâng năng lực tiếp nhận, ứng dụng công nghệ và từng bước tham gia những hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu.
Xin trân trọng cảm ơn ông!