Chiều 30/10, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) với sự phối hợp chuyên môn của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, tổ chức Diễn đàn “Doanh nghiệp trước biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng: Kịch bản ứng phó cuối năm 2026, triển vọng năm 2027”.
Sự kiện nằm trong khuôn khổ Đề án “Hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách và nâng cao năng lực”.
Phát biểu tại Diễn đàn, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2026, với GDP tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95%. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 15,1%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng 12,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, những kết quả tăng trưởng tích cực đang đi cùng với nhiều thách thức từ môi trường bên ngoài.
Theo ông Hiển, kinh tế thế giới chịu tác động của các xu hướng lớn như cạnh tranh công nghệ, điều chỉnh quan hệ giữa các nước lớn, phân mảnh địa kinh tế, biến động năng lượng và tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, những biến động này đang truyền dẫn trực tiếp vào chi phí vốn, giá nguyên vật liệu, khả năng tiếp cận thị trường và hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Trong 9 tháng đầu năm, có khoảng 149.700 doanh nghiệp thành lập mới, nhưng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể lên tới 48.700, tăng 118,8% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, chi phí vốn vẫn ở mức cao, lãi suất cho vay bình quân tháng 9 dao động từ 8,4 - 10,9%/năm. Giá nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào biến động, cùng với áp lực tỷ giá và chi phí logistics, tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng duy trì biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trước những khó khăn đó, ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh, thời điểm cuối năm 2026 có ý nghĩa quan trọng khi doanh nghiệp vừa phải hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh, vừa chuẩn bị phương án cho năm 2027 trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều yếu tố khó dự báo. Tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng không phải những khái niệm vĩ mô xa xôi mà tác động trực tiếp tới từng hợp đồng, đơn hàng và quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Tỷ giá làm thay đổi chi phí nhập khẩu, nghĩa vụ ngoại tệ và hiệu quả xuất khẩu; lãi suất ảnh hưởng đến chi phí vốn và dòng tiền; trong khi giá năng lượng tác động đến vận hành, vận chuyển, bảo quản và sức cạnh tranh. Khi ba yếu tố cùng biến động, sức ép đối với doanh nghiệp có thể gia tăng.
Ông Nguyễn Quang Vinh cho rằng, doanh nghiệp cần có thông tin đủ tin cậy để nhận diện xu hướng, xây dựng các kịch bản linh hoạt và lựa chọn giải pháp có thể triển khai trong thực tế. Theo Phó Chủ tịch VCCI, tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng nhưng không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu, nhất là vốn trung và dài hạn. Vì vậy, doanh nghiệp cần nâng cao tính minh bạch tài chính, chất lượng quản trị và từng bước mở rộng khả năng huy động vốn qua thị trường vốn, giảm phụ thuộc vào một kênh tài trợ.
Tại Diễn đàn, ông Đào Văn Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê, Ngân hàng Nhà nước cho biết, cơ quan này tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng. Tính đến ngày 26/10/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20.815,94 nghìn tỷ đồng, tăng 11,94% so với cuối năm trước. Chương trình tín dụng ưu đãi hướng đến các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được 20 ngân hàng thương mại công bố triển khai với quy mô khoảng 416.000 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 54.300 tỷ đồng đã được giải ngân cho 33.000 lượt khách hàng.
Bên cạnh nguồn vốn, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục định hướng các tổ chức tín dụng cải tiến thủ tục, rút ngắn thời gian xét duyệt và nghiên cứu phương thức đánh giá khách hàng dựa nhiều hơn vào phương án kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng và dữ liệu doanh nghiệp, phù hợp với yêu cầu kiểm soát rủi ro.
Cũng bàn về giải pháp, PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, doanh nghiệp cần theo dõi đồng thời cả những yếu tố bên ngoài và những áp lực trong nước. Giá dầu, chính sách lãi suất của Mỹ và biến động của thị trường công nghệ có thể tác động mạnh tới hoạt động xuất khẩu, tỷ giá và chi phí sản xuất. Trong nước, lãi suất và lạm phát tiếp tục là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mở rộng kinh doanh và sức cạnh tranh.
Vì vậy, doanh nghiệp cần có phương án dự phòng trước khả năng thị trường xuất khẩu thay đổi, nguồn cung năng lượng gián đoạn hoặc chi phí vốn gia tăng, thay vì chỉ xây dựng kế hoạch dựa trên điều kiện thuận lợi.