Đề án được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các "điểm nghẽn" thể chế, tạo bệ phóng chiến lược giúp Đồng bằng sông Cửu Long chuyển đổi mô hình phát triển và đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững.
Chuyển từ "thích ứng" sang "tổ chức lại không gian phát triển"
Theo Báo cáo đề dẫn của Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), tư duy chính sách phát triển Đồng bằng sông Cửu Long đang có sự chuyển dịch rõ nét từ “ứng phó và thích ứng thuận thiên” sang “phát triển tích hợp và tổ chức lại không gian vùng”, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò là trục xuyên suốt.
Hiện nay, Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước khi đóng góp trên 50% sản lượng lúa, 65% thủy sản nuôi trồng, 70% trái cây và trên 90% kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng của vùng không còn nằm ở việc mở rộng quy mô hay gia tăng sản lượng đơn thuần, mà phụ thuộc hoàn toàn vào việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để nâng cao năng suất và gia tăng giá trị cho chuỗi sản xuất.
Nhấn mạnh yêu cầu bứt phá trong giai đoạn mới, ông Nguyễn Văn Khởi, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ cho biết, mặc dù tốc độ tăng trưởng GRDP toàn vùng năm 2023 đạt 7,24%, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số (từ 10%/năm trở lên), Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với thử thách lớn khi mô hình sản xuất nhỏ lẻ vẫn chiếm tới 68% tổng số hộ. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số toàn diện chuỗi giá trị nông sản là đòi hỏi cấp thiết nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho nông sản toàn vùng.
Bên cạnh hạn chế về quy mô sản xuất, Đồng bằng sông Cửu Long còn đang phải đối mặt với nhiều thách thức sinh tồn nghiêm trọng. Giáo sư, Tiến sĩ Hà Thanh Toàn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ chỉ ra rằng, tình trạng biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển và sự suy giảm nguồn nước xuyên biên giới đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền tảng sản xuất của vùng. Cùng với đó, những hạn chế về hạ tầng kỹ thuật và sự thiếu hụt các cơ hội việc làm có thu nhập cao đã dẫn đến làn sóng di cư quy mô lớn, khiến hơn một triệu người rời khỏi Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây.
Phân tích sâu hơn về phương thức sản xuất, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương (Đại học Cần Thơ) khẳng định, phương thức canh tác dựa thuần túy vào kinh nghiệm truyền thống đã không còn phù hợp trước áp lực biến đổi khí hậu và yêu cầu khắt khe của thị trường. Giải pháp then chốt hiện nay là phải tập trung "tri thức hóa người nông dân", đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, tự động hóa và chuyển đổi số; đồng thời, cần tạo động lực thúc đẩy nông dân tham gia các hợp tác xã, trang trại quy mô lớn để kết nối bền vững với các tập đoàn, doanh nghiệp tiêu thụ.
Thẳng thắn nhìn nhận những bất cập về thể chế, Giáo sư, Tiến sĩ Hà Thanh Toàn phản ánh, nhiều chương trình, dự án trọng điểm của vùng bị trì trệ do rào cản pháp lý và sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành. Điển hình như Đề án Trung tâm chế biến và bảo quản nông sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa được khởi động, Trung tâm Dữ liệu vùng Đồng bằng sông Cửu Long chưa thể vận hành do vướng mắc tích hợp dữ liệu, hay dự án Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ sinh học vùng trị giá 70 triệu USD từ nguồn vốn Ngân hàng Thế giới (WB) bị kéo dài nhiều năm. Đặc biệt, quy định của Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành chưa cho phép các địa phương phối hợp đóng góp ngân sách chung, gây rào cản lớn cho việc triển khai các nhiệm vụ liên kết vùng.
Từ thực tiễn quản lý địa phương, ông Nguyễn Minh Luân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau chia sẻ, dù tỉnh đã cân đối hơn 2.000 tỷ đồng cho các lĩnh vực khoa học công nghệ, y tế và chuyển đổi số, nhưng tỷ lệ giải ngân lại đạt rất thấp. Nguyên nhân chính xuất phát từ sự mơ hồ trong các văn bản hướng dẫn thực thi cùng tâm lý e ngại sai phạm, né tránh trách nhiệm của một bộ phận cán bộ. Bên cạnh đó, các địa phương trong vùng còn đối mặt với tình trạng thiếu hụt trang thiết bị công nghệ ở cấp cơ sở và sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực có trình độ khoa học công nghệ.
Tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế và huy động nguồn lực bứt phá
Để vượt qua các rào cản này, Đồng bằng sông Cửu Long cần áp dụng đồng bộ các Nghị quyết của Trung ương về khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân và giáo dục vào đổi mới sáng tạo. Sự phát triển bền vững của vùng đòi hỏi sự hợp lực rõ ràng từ ba phía: cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò kiến tạo và tháo gỡ rào cản thể chế; doanh nghiệp đóng vai trò động lực đầu tư, ứng dụng công nghệ và thương mại hóa sản phẩm; còn người dân chủ động nâng cao trình độ, tiếp thu kỹ thuật mới để thực hiện chuyển đổi phương thức sản xuất hiệu quả.
Ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Đồng bằng sông Cửu Long đề xuất lấy khoa học công nghệ làm tâm điểm thay thế cho các mô hình liên kết hành chính trước đây, đồng thời giao Trường Đại học Cần Thơ làm đơn vị đầu tàu quy tụ lực lượng khoa học, kết nối chính quyền và doanh nghiệp. Ông Lam nhấn mạnh, doanh nghiệp chính là lực lượng đóng góp trực tiếp nhất cho mục tiêu tăng trưởng cao, do đó các giải pháp khoa học công nghệ phải tập trung phục vụ chính xác nhu cầu của từng ngành hàng chủ lực.
Về phương án huy động tài chính, ông Nguyễn Phương Lam cho rằng cần có cơ chế phối hợp đồng bộ từ ba nguồn: Ngân sách đóng góp chung giữa trung ương và các địa phương; nguồn vốn đầu tư từ cộng đồng doanh nghiệp; cơ chế tài chính đặc thù quy định tỷ lệ tín dụng bắt buộc từ các ngân hàng thương mại dành riêng cho nông nghiệp và khoa học công nghệ tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng quan điểm về đổi mới mô hình vận hành, ông Trần Kim Chung, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn CT Group kiến nghị chuyển đổi từ mô hình "3 nhà" sang mô hình liên kết "5 nhà" (bổ sung thêm "Nhà công nghệ chuyên ngành" và "Nhà ngân hàng"). Ông Chung đề xuất triển khai ngay các giải pháp mang lại giá trị kinh tế cao trong ngắn hạn 12-24 tháng như: Đề án tín chỉ carbon, ứng dụng nông nghiệp chính xác, hệ thống "bản sao số" (digital twin) và đào tạo công nghệ AI/GPT cho đội ngũ quản lý và doanh nghiệp.
Ở góc độ quản lý ngành nông nghiệp, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chỉ ra rằng khâu thực thi đang là "điểm nghẽn" lớn khi chỉ có 1 trong tổng số 55 đề xuất nhiệm vụ công nghệ chiến lược đạt yêu cầu thẩm định. Ông Long kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ sớm ban hành khung hướng dẫn về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) để tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các công nghệ mới như giống cây trồng, vật nuôi chỉnh sửa gen hay mô hình "cánh đồng không người". Đồng thời, Bộ cần đẩy mạnh bảo hộ thương hiệu nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và ủng hộ thành lập Phòng thí nghiệm trọng điểm về Công nghệ sinh học tại Đại học Cần Thơ.
Đồng hành cùng Đề án, ông Nguyễn Minh Luân cho biết, tỉnh Cà Mau chỉ đạo nâng mức chi cho khoa học công nghệ đạt 5% ngân sách vào năm 2027, quyết tâm hoàn thành tạo lập dữ liệu dùng chung vào tháng 6/2027 và thí điểm chuyển đổi số toàn diện tại 10 xã, phường. Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Khởi thông tin, thành phố Cần Thơ đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% và nâng tỷ lệ nhân lực nghiên cứu lên 12 người/vạn dân, đóng vai trò hạt nhân lan tỏa nguồn nhân lực cho toàn vùng.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính khẳng định, Đề án đặc thù được thiết kế theo ba nhóm nội dung cốt lõi: các nhiệm vụ ưu tiên triển khai ngay, các giải pháp mang tính đột phá và chuẩn bị cho chiến lược dài hạn. Với sự phối hợp trực tiếp của 12 đơn vị thuộc Bộ cùng các bộ, ngành, địa phương, viện - trường và các tập đoàn lớn, Đề án sau khi trình duyệt sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, biến Đồng bằng sông Cửu Long thành không gian thử nghiệm, thương mại hóa công nghệ hiện đại, tạo đà bứt phá phát triển nhanh và bền vững cho toàn vùng.