Bộ Giao thông Vận tải kiến nghị Chính phủ chưa xem xét lập hãng hàng không mới

Chiều 18/5, đại diện lãnh đạo Vụ Vận tải (Bộ Giao thông Vận tải) cho biết, Bộ Giao thông Vận tải vừa có văn bản báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng kết quả rà soát, xem xét việc thành lập thêm các hãng hàng không trong tình hình mới nhằm đảm bảo quản lý nhà nước về hàng không, phát triển bền vững.
Chú thích ảnh
Máy bay đậu tại một góc sân bay Nội Bài. Ảnh minh họa: Huy Hùng/TTXVN

Theo đó, nhằm đảm bảo quản lý Nhà nước về hàng không phát triển bền vững trong tình hình mới, Bộ Giao thông Vận tải kiến nghị: trước mắt, tập trung phục hồi thị trường vận tải hàng không trong nước và quốc tế, tháo gỡ khó khăn cho các hãng hàng không Việt Nam đang hoạt động; việc thành lập hãng hàng không mới sẽ được xem xét sau thời điểm thị trường hàng không phục hồi (dự kiến năm 2022).

Bộ Giao thông Vận tải cho biết, khi góp ý với hồ sơ Dự án đầu tư thành lập Hãng hàng không Cánh Diều (Kite Air) của Công ty cổ phần Hàng không Thiên Minh gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam vào tháng 10/2019; trong đó Bộ Giao thông Vận tải đã đánh giá giai đoạn 2014-2018 thị trường vận tải hàng không Việt Nam có sự tăng trưởng cao, liên tục với mức độ tăng trưởng trung bình giai đoạn là 20,5% về hành khách và 13,2% về hàng hoá.

Năm 2018, tổng thị trường vận tải hàng không Việt Nam đạt xấp xỉ 70 triệu khách (tăng 12,6% so năm 2017) và 1,2 triệu tấn hàng hóa (tăng 7,2% so năm 2017), tăng tương ứng 2,1 lần và 1,64 lần so với năm 2014. Hệ số sử dụng ghế trung bình của các hãng hàng không Việt Nam cũng rất cao, ở mức trên 84% vào năm 2018 và trên 80% giai đoạn 6 tháng đầu năm 2019. Dự báo tình hình phát triển thị trường vận tải hàng không, sản lượng vận chuyển của các hãng hàng không Việt Nam đạt trên 60 triệu khách vào năm 2020 và đạt xấp xỉ 96 triệu khách vào năm 2025.

Để đảm bảo vận chuyển lượng hành khách này, số lượng tàu bay tương ứng của các hãng hàng không Việt Nam là 255 tàu bay vào năm 2020 và 384 tàu bay vào năm 2025 (số liệu được tính toán trên cơ sở thực tiễn khai thác của các hãng hàng không Việt Nam trung bình là 250 nghìn khách/tàu bay/năm).

Tuy nhiên, Bộ Giao thông Vận tải cho hay do ảnh hưởng của dịch COVID-19 trong tình hình mới, thị trường vận tải hàng không thế giới và Việt Nam đã sụt giảm nghiêm trọng.

Theo thông tin ngày 21/4/2020 của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), IATA dự báo nhu cầu thị trường sẽ giảm 80% trong thời gian tới, đe dọa mất 25 triệu việc làm trong lĩnh vực hàng không, kêu gọi Chính phủ các nước có các biện pháp khẩn cấp để trợ giúp các hãng hàng không tồn tại, bảo vệ việc làm cho người lao động.

Đối với Việt Nam, tổng thị trường vận chuyển năm 2020 ước đạt 42,7 triệu khách, giảm 46% so với năm 2019 và bằng 50% so với dự báo nêu trên. Các hãng hàng không Việt Nam vận chuyển ước đạt 32,6 triệu khách, giảm 40,7% so với năm 2019, chỉ bằng 54% sản lượng vận chuyển đã dự báo.

Đến hết năm 2022, tổng thị trường vận chuyển dự báo đạt 78 triệu khách, bằng 74% so với dự báo đã báo cáo; trong đó các hãng hàng không Việt Nam vận chuyển ước đạt hơn 57 triệu khách, bằng 75% so với dự báo đã báo cáo. Như vậy, theo kịch bản lạc quan nhất, các chỉ số về thị trường vận tải hàng không Việt Nam của năm 2022 chỉ xấp xỉ bằng năm 2019.

“Đội tàu bay của các hãng hàng không Việt Nam hiện tại là 214 tàu bay nhưng mới chỉ khai thác các đường bay nội địa và một số chuyến bay chở hàng quốc tế với tỷ lệ trọng tải cung ứng chưa tới 50% so với năng lực”, Bộ Giao thông Vận tải cho biết.

Tại thị trường Việt Nam hiện có 5 hãng được cấp giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không là Vietnam Airlines, Jetstar Pacific, Vasco, Vietjet Air và Bamboo Airways.

Hiện tại, bên cạnh Vietravel Airlines, hiện còn có 2 hãng hàng không đang làm thủ tục xin giấy phép cất cánh gồm Công ty cổ phần hàng không Thiên Minh (Kite Air) và Công ty TNHH MTV hàng không Vietstar (Vietstar Air).

Quang Toàn (TTXVN)

Dành cho bạn

Mở không gian phát triển, tạo lực đẩy tăng trưởng mới

Mở không gian phát triển, tạo lực đẩy tăng trưởng mới

Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Để hiện thực hóa mục tiêu, cần khơi thông các nguồn lực, biến chủ trương thành kết quả cụ thể cùng chuyển động thực chất từ mỗi địa phương.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa

Hạt gạo phát thải thấp - Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa

Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi cách canh tác để thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để người dân duy trì phương thức sản xuất mới, chính sách hỗ trợ cần gắn yêu cầu kỹ thuật với bảo đảm thu nhập, cải thiện hạ tầng và chia sẻ rủi ro.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Để mở rộng sản xuất lúa phát thải thấp, Đồng bằng sông Cửu Long cần giải quyết đồng thời yêu cầu kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh áp dụng công nghệ giúp nông dân giảm chi phí, kết quả giảm phát thải cũng cần được cơ quan chức năng hỗ trợ kiểm chứng để doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh và thị trường carbon.

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án

Sáng 2/11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các đại biểu đề nghị gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, xây dựng tiêu chí đo lường hiệu quả dự án, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Đồng bằng sông Cửu Long đang chuyển đổi sản xuất lúa theo hướng nâng chất lượng và giảm phát thải. Để duy trì và mở rộng cách làm mới, ngành nông nghiệp cần tháo gỡ nút thắt về công nghệ, vốn và thị trường carbon, đồng thời bảo đảm lợi ích lâu dài cho người trồng lúa.