Thương hiệu cho nông sản Việt

Việt Nam không hiếm mặt hàng nông sản thế mạnh, nhưng sản phẩm có thương hiệu trên thị trường quốc tế lại thiếu trầm trọng. Đó là một nghịch lý không dễ khắc phục. Nông sản nước ta phần lớn xuất khẩu ở dạng thô, các doanh nghiệp nước ngoài sau khi nhập đã chế biến và sử dụng tên, thương hiệu của họ.
 Điều này, không chỉ làm giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông sản, mà còn là một thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp nước ta trong bối cảnh hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới.
Thực tế, có rất nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu với số lượng hàng đầu thế giới, như gạo, cà phê, hạt điều, cao su, hồ tiêu, cá tra… nhưng giá xuất khẩu lại luôn thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước và bị thao túng về giá cả. Ở khía cạnh nào đó, các sản phẩm nông sản sản xuất quy mô lớn đều hướng đến thị trường xuất khẩu, tuy nhiên, rất ít khách hàng nước ngoài biết đó là thương hiệu của Việt Nam. Chẳng hạn, dù Việt Nam đứng thứ hai thế giới về sản xuất cà phê (trong đó cà phê robusta đứng đầu thế giới), nhưng vẫn chưa có thương hiệu cà phê theo đúng nghĩa. Một số sản phẩm nông sản khác cũng vậy (gạo, cá tra, rau quả, thanh long…), nhiều năm trở lại đây thường xuất với giá rẻ, thậm chí còn bị bạn hàng ép giá do chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu.
Câu hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam chưa có thương hiệu đặc trưng cho một số nông sản được xuất khẩu với số lượng lớn? Phải thấy rằng, nông sản Việt Nam thiếu sức cạnh tranh, trước hết là do trình độ thâm canh thấp, quy mô sản xuất manh mún, giá thành lại cao. Đây là hệ quả của việc liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp với nông dân thiếu chặt chẽ, chưa hiệu quả và thiếu tính bền vững. Nông dân sản xuất thì trông cậy vào sự may rủi giá cả thị trường. Doanh nghiệp xuất khẩu thì coi nhẹ việc thiết lập thị trường tiêu thụ ổn định, căn cơ, thậm chí lệ thuộc vào một vài thị trường truyền thống tiềm ẩn nhiều rủi ro. 
Phần lớn doanh nghiệp nông - lâm - thủy sản vẫn chưa liên kết với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, đảm bảo chất lượng; chưa xây dựng được chuỗi cung ứng nông sản như những tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài để đủ sức điều tiết thị trường. Đơn cử, sản phẩm lúa gạo của Việt Nam luôn đứng trong top đầu về xuất khẩu, tuy nhiên chúng ta chưa có nổi một thương hiệu gạo để quảng bá. Theo một số chuyên gia nông nghiệp, chúng ta chưa có chương trình và nỗ lực thực sự để xây dựng và phổ biến thương hiệu; thiếu sự phối hợp giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp, thương lái và nông dân để tạo ra một thương hiệu gạo chất lượng cao… Mặt khác, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khâu thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch, kỹ thuật canh tác lạc hậu, chất lượng sản phẩm không bảo đảm, giá thành cao khiến nông sản Việt Nam không đủ sức cạnh tranh.
Xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam sẽ khó thành công nếu không có chính sách đồng bộ, sự liên kết giữa người làm khoa học, người nông dân và hệ thống chế biến, tiêu thụ. Đó là việc hình thành mối liên kết từ cung ứng đầu vào (người sản xuất) đến khâu lưu thông (thương lái), chế biến (nhà máy, doanh nghiệp) và phân phối sản phẩm. Vấn đề đặt ra là cần có một chương trình đầu tư bài bản, bền bỉ, lâu dài, tuân thủ các yêu cầu về chất lượng nông sản xuất khẩu theo chuẩn quốc tế. 
Mặt khác, xây dựng thương hiệu cũng cần đi đôi với việc bảo vệ và phổ biến thương hiệu. Điều đó cũng đòi hỏi, trước hết người sản xuất phải có ý thức về thương hiệu, có hệ thống pháp luật và cơ quan bảo vệ thương hiệu, quảng bá thương hiệu. Thực tế cho thấy, việc thiếu kiểm soát trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản, đã tạo điều kiện cho hàng trôi nổi từ nước ngoài giả danh hàng Việt Nam, khiến nhiều nông sản Việt Nam bị thất thế ngay trên sân nhà, chứ chưa nói xuất khẩu.
Do vậy, muốn xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt, đòi hỏi tất yếu là phải hướng tới một nền nông nghiệp công nghệ cao, hình thành các vùng chuyên canh nông sản với năng suất và chất lượng cao. Nói cách khác, chỉ có áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ để giảm chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh, thì nông sản Việt Nam mới có đủ khả năng tham gia thị trường toàn cầu.
Yến Nhi

Tin cùng chuyên mục

Thu Hằng

Đừng để hành trình dang dở

Hiệu quả của chính sách sẽ không chỉ được đo lường bằng số khoản vay hay lượt tư vấn, mà còn ở khả năng giúp người học ổn định tình hình, tiếp tục học tập hoặc tìm được một lộ trình phù hợp hơn.

Minh Thuyết

Trao cơ hội để phụ nữ dân tộc thiểu số vươn lên

Trong rất nhiều chính sách dành cho phụ nữ, cho bình đẳng giới, hỗ trợ phụ nữ vươn lên khẳng định vị trí của mình trong gia đình và xã hội… thì chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ, trẻ em gái khu vực này luôn là ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước.

Xuân Phong

Sứ mệnh hòa bình và 'mệnh lệnh' của tri ân

Dù mới được triển khai hơn sáu tháng, nhưng những ngày qua và chắc chắn cả những ngày tiếp theo, Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ sẽ là chiến dịch được chờ đợi nhất, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhất trong lòng nhân dân.

Yến Nhi

Điểm tựa bảo vệ trẻ em trên môi trường số

Môi trường số tác động mạnh mẽ và toàn diện đến đời sống của học sinh, bao gồm cả mặt tích cực lẫn những hệ lụy lớn. Với trẻ em, đối tượng dễ bị tổn thương, môi trường số tiềm ẩn nhiều hiểm họa nếu thiếu sự đồng hành, định hướng từ gia đình, nhà trường và xã hội.

Tiến Hiếu

Không dung tha tội chống phá Nhà nước

Nhiều năm qua, tổ chức mang danh “Việt Tân” chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, phá hoại cuộc sống bình yên của đất nước. Dù luôn khoác lên mình "chiếc áo bọc đường" mang tên “đấu tranh dân chủ”, “nhân quyền” hay “diễn biến hòa bình”, bản chất độc hại và bạo lực của tổ chức này chưa bao giờ thay đổi.

Trung Sơn

Khơi dòng để quyết sách đi vào cuộc sống

Từ các gợi mở của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc Hội nghị Trung ương 4, có thể thấy tinh thần chủ đạo là nhìn thẳng vào những điểm nghẽn để tháo gỡ, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để hiện thực hóa mục tiêu phát triển.

Dành cho bạn

Hải Yên

Trợ lực thiết thực cho cán bộ dôi dư sau sáp nhập

Sắp xếp đơn vị hành chính là chủ trương đúng đắn để tinh gọn bộ máy. Việc chủ động xây dựng chính sách hỗ trợ cán bộ dôi dư và người làm việc xa nhà không chỉ thể hiện tính nhân văn sâu sắc mà còn là động lực để bộ máy mới vận hành thông suốt, hiệu quả.

Hoài Nam

Từ tiêu chuẩn đến năng lực thực thi

Kết luận 96-KL/TW đặt phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực và quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ trong cùng một mạch giám sát. Khi quyền hạn được trao ngày càng rõ hơn, thước đo cán bộ cũng cần chuyển mạnh từ “đủ tiêu chuẩn” sang năng lực thực thi và kết quả công việc.

Thùy Hương

'Bước chuyển tư duy' về dữ liệu

Nghị định số 363/2026/NĐ-CP ngày 19/9/2026 là một bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về dữ liệu, thể hiện rõ “bước chuyển tư duy" từ “bảo vệ” sang “quản trị” nguồn “tài nguyên” quan trọng này.

Hà Ngọc

Sau tiếng cồng nâng hạng

Việt Nam bước vào nhóm thị trường mới nổi, mở cánh cửa lớn hơn với dòng vốn toàn cầu, nhưng thách thức cũng bắt đầu, nhất là làm sao để thu hút và giữ chân dòng vốn dài hạn.