Tôi có thằng bạn đi xuất khẩu lao động đã mười mấy năm trời, nay trở về quê. Tận sâu thẳm trong lòng gã là một nỗi sợ mơ hồ nhưng chắc chắn: cảnh núi đồi trơ trụi ở quê hương với những quả núi, hòn đồi bị cạo đến trắng hếu.
Ấy vậy mà khi đặt chân xuống quê nhà, gã ngợp cả người khi nhìn lên đỉnh Động Thờ. Từ đỉnh núi mượt xuống chân đồi, cả một vùng tràn ngập màu xanh. Sự kinh ngạc được hóa giải khi gã nghe kể về cựu trung tá Ngô Trực Nhuần “người dã lạ hóa” vùng tây đỉnh Động Thờ, được nhân dân xã Viên Thành - Yên Thành - Nghệ An khen ngợi như một chiến công.
I.
Trung tá Ngô Trực Nhuần là anh ruột Phó giáo sư sinh học Ngô Trực Nhã; Giám đốc Trung tâm môi trường sinh học, Đại học Vinh. Ông sinh ra trong một gia đình bề thế thời phong kiến; dòng dõi với nhà nho Ngô Xuân Hàm - nguyên Chủ tịch huyện Yên Thành - Nghệ An những ngày đầu sau tổng khởi nghĩa.
Ông Ngô Trực Nhuần, người làm nên kỳ tích phủ xanh đỉnh Động Thờ. |
Ông, năm 1955, là một trong số những thanh niên hiếm hoi của vùng đất Yên Thành này bước chân vào trường đại học nhân dân Việt Nam mà lúc đó đích thân cụ Phạm Văn Đồng được mời làm hiệu trưởng danh dự; để rồi năm 1956 về công tác tại Bộ Văn hóa; Tháng 3/1960 được kết nạp Đảng, đến 1960 ông lại vào đại học Bách khoa - khoa điện; rồi 1965 vào quân đội, lại học sĩ quan thông tin, về Bộ tổng Tham mưu; tháng 12/1969 xung phong đi chiến trường Bình-Trị-Thiên khói lửa: Một ông kĩ sư như vậy, thời ấy vào trong bom đạn là của hiếm, ông cống hiến hết mình, kết quả được thưởng Huân chương Chiến công.
Hết chiến tranh 1976 ông về quân khu IV; đến năm 1989 thì về hưu.
Thế là ổn rồi; chú Nhuần về hưu; lương cao (có cháu, à con) để bế bồng; họ hàng ta thế là vui rồi! Chú Nhuần giỏi điện tử lắm; lần này nghe đâu chú ấy hùn vốn mua đồ điện tử tận trong Cửa Lò về tân trang lại rồi bán, một vốn bốn năm lời nhé; chú ấy lại có cả máy làm kem nữa; rồi thì giàu phải biết… Các cụ trong họ hàng thường đem ông ra làn gương cho bọn trẻ, tưởng ông sẽ an nhiên hưởng cái danh thơm; ai ngờ, ông lại làm một chuyện động trời, nghe ra ai cũng sửng sốt…
II.
Không: ông Nhuần không bỏ vốn vào buôn bán nghề điện tử; mà ông vay vốn để trồng rừng. Trời ơi… gần sáu mươi tuổi; lẽ ra “Lão gia an chi rồi” sao hay bày vẽ thế. Mặc cho các ông bạn già, bàn bạc cãi nhau, ông Nhuần cứ làm; vợ con ông thì méo cả mặt. Ủng hộ ông lúc này may ra chỉ có người em trai - nhà sinh học Ngô Trực Nhã.
Vào những ngày động trời, ông trầm ngâm đứng giữa sân nhà ngước mắt nhìn lên núi, ký ức chợt ùa về đến xót xa… Ngọn núi Động Thờ chính tên Cao Sơn; có tên trong bộ sách nổi tiếng Nghệ An ký của Quan đốc học - Tiến sĩ đại khoa triều Lê Bùi Dương Lịch “núi là danh thắng của vùng này, có mạch từ núi rồng đi ra, trấn giữ cả một vùng, từ hẻm núi trông lên như một cỗ xe khổng lồ, nên có tên khác: Long Can đại liễu sơn, một danh thắng có tiếng, trên đỉnh núi có đền bàn thờ Cao Sơn - Cao Các; và một hạt lúa bằng đá khổng lồ; mạch núi chạy ra phía bắc đột ngột nổi lên lèn Hai Vai, núi hổ lĩnh, lèn Vĩnh Tuy, rú Tháp, trông như tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng chầu về con voi chúa; lại có sông Bùng uốn lượn xa xa như một con rồng”; đỉnh núi quanh năm ảo mờ sương khói; thật là đất địa linh; ấy vậy mà chiến tranh, giặc già, đói nghèo; người ta đã cạo sạch sườn núi như một cái đầu trắng hếu… để khi mưa lũ thì khủng khiếp; nước trên các khe suối hợp lại với nhau như một đàn trâu bạc khổng lồ ào ào xô cát, đá, sỏi, gốc cây bồi lấp bao cánh đồng màu mỡ ven đồi; rồi nước ào ạt tuôn ra sông Bùng; nắng lên lại khô hạn, sỏi cát, đồng ruộng đầy sỏi cát, sườn núi trơ đá gan trâu, khét bỏng gió lào; chỉ một mồi lửa nhỏ là bao nhiêu cỏ tranh, sim mua nhọc nhằn lắm mới lên được tới đầu gối; đã bốc cháy như rơm vò ngày đại hạn.
Chính quê hương đang phải chịu một quả báo thảm khốc vậy; và ông ứa nước mắt nhớ những năm tháng mát rượi ở rừng già Trường Sơn, rừng che bộ đội, rừng vây quân thù; bây giờ về quê hương rừng chết rồi; và không vực lại được màu xanh ký ức ấy là phản bội rừng, phải bội Trường Sơn… ơi bao anh em đồng đội nằm lại trong rừng già… quê hương sao lại thế này?
Tháng 7/1993, cựu trung tá Ngô Trực Nhuần, dẫn bầu đoàn thê tử cùng anh em họ hàng nhằm phía Tây Nam “Long can đại liễu sơn” thẳng tiến…” Trước đó một năm ông đã tập trung nhân lực học ươm cây; làm bầu; và chạy ngược chạy xuôi vay vốn từ anh em, bầu bạn, cho đến cầm cố ngân hàng… và ông nhận 100 ha đất đồi trọc để trồng rừng.
Về lý thuyết khi cây lên, cây cổ thụ hoặc rừng dày, rậm sẽ kéo hơi nước về hội tụ, cộng với gió ẩm từ phía biển vào; lượng mưa vùng này sẽ tăng lên; giải quyết khô hạn. Rừng sẽ giữ nước lại chống xói mòn, hàng trăm ha đất ven đồi sẽ chấm dứt nạn cát sỏi hóa; các hồ đập quanh vùng sẽ tái tạo nguồn nước phục vụ sản xuất; trung lưu sông Bùng sẽ giảm hẳn tình trạng lưu vực sông bị bồi lấp hoặc đầm lầy hóa, rừng trở lại chim chóc sẽ ùa về, sinh khí trong vùng tăng lên, lượng ôxi nhả ra càng lớn, sức khỏe con người càng tăng lên… tóm lại là vô số cái lợi trước mắt và lâu dài… Nhưng đó là lý tưởng, khi đứng trên sườn núi lạnh tanh, khô khốc ông vẫn cảm thấy ớn lạnh… sáu mươi tuổi rồi còn gì; đêm sâu, sương ẩm, đom đóm bay rợp bụi cây; rắn bò qua kẻ đá; ông sốt, cơn sốt từ Trường Sơn ập về… khát, sườn núi khô khát, cả sườn núi đỏ như than sắp tàn…
Sau trận ốm năm ấy, người ta tưởng ông sẽ bỏ cuộc.
Nhưng ông vẫn trở lại sườn núi. Và sự thật lại vô cùng nghiệt ngã; những trận phản công của số phận quật ông tới số: Đào ao thả cá: bị mất trộm, trồng dưa hấu, tốt, quả mới to bằng cái bát: trẻ chăn trâu đã thu hoạch hết. Trồng mây phục vụ nghề đan, đất cằn, mây chết. Mua nhãn Hưng Yên về trồng, bị hỏng. Trồng sắn cao sản, củ to nhưng quá rẻ... Chỉ còn nước khóc. Sau ông chợt nghĩ lại; mình vào đây, mục đích chính là trồng rừng vì môi trường sinh thái, chứ không phải là đa canh. Cây ông trồng chủ yếu là cây thông; bạch đàn. Thông thì được, bén đất, tốt vùn vụt, như từng đàn trẻ em xòe hàng ngàn cái ô xanh lên trời, nhưng bạch đàn thì sao mà chậm lớn.
Giữa lúc ấy có ý kiến rất mạnh mẽ của Phó Thủ tướng Đồng Sĩ Nguyên, kêu gọi các cựu chiến binh trồng rừng và các chủ rừng hãy lưu ý, bạch đàn phá đất, nếu xen trồng theo kiểu bạch đàn 50%; thì thắng lợi, mười mấy năm sau, keo lá tràm đã to bằng thân người mà bạch đàn có chỗ vẫn bằng cổ tay... ông thán phục: cụ Đồng Sĩ Nguyên tài thật, đánh giặc nổi tiếng mà chỉ đạo trồng rừng cũng khiếp; vị tư lệnh đường 559 khi xưa này ghê gớm thật.
Hồi ấy đang lao đao vì vốn liếng trồng rừng, bỗng có dự án PAM “4324”, cứ 1 ha rừng được trồng sẽ có 1 tạ gạo (khi khai thác gỗ thì trả lại vốn cho trên); thế là ông thở phào nhẹ nhõm. Nhưng có một điều khiến ông xót dạ là ngoài thói đố kỵ, phá trộm của người đời, người nông dân đi trồng rừng thuê vẫn có tệ làm dối. Cầm cây lên núi, chỗ nào dễ thì trồng nhiều, chỗ đất đá thì bỏ, hoặc ném bớt cây đi; kê thêm công, báo cáo dối, lấy thêm tiền công. Ông cho mua cả trăm mét dây thừng; cứ ba điểm thẳng hàng thì thành một đường thẳng; kéo dây ra và dùng vôi đánh dấu, cứ cách nhau 3 mét đào 1 ô; cứng cũng đào, gặp đá đào đá, tóe máu cũng phải đào đúng tỷ lệ vậy. Chỉ sau ít ngày cả óc núi chi chít những hố trồng cây đều tăm tắp, bọn khai gian làm dối chỉ có việc bó tay ngồi khóc. Khi đi báo cáo điển hình ở huyện, ông đưa ra sáng kiến chống tiêu cực này; cả hội nghị vỗ tay rầm rầm, từ cổ chí kim chưa ai có cách làm lạ đến vậy.
Hai mươi năm đã trôi qua; Ngô trưởng lão đã già, nhưng người vẫn đứng vững trên dốc núi. Động Thờ trơ trụi, nay đã hồi sinh; một màu xanh ngợp mắt kéo dài từ chân núi lên tận đỉnh, từ Viên Thành quê ông đã tiếp sang Sơn Thành, Nghi Văn (Nghi Lộc) xuống Diễn Lợi, Diễn Thắng, kéo tận vùng Diễn Phú, Diễn An; cả dãy núi đồ sộ ấy đã rợp bóng keo, thông, bạch đàn, tràm, chim cò từng đàn đã tìm về; sim mua nở như thuở hồng hoang đại ngàn đã thức giấc, những cánh đồng quanh núi đã hồi sinh, nạn sa mạc hóa, cát hóa, sỏi hóa bị đẩy lùi, mưa thuận, gió hòa rồi; nếu đứng từ đường 7, hoặc đường 34 nhìn lên người ta sẽ kinh ngạc vì màu xanh của núi rừng, của ruộng lúa; một đập nước lớn ở tây nam núi sẽ được chính phủ đầu tư, môi trường sinh thái đã hồi sinh đến kỳ lạ.
Có người đề nghị ông Nhuần nên khai thác các vùng nước khoáng mới được phát hiện, xây dựng thủy điện nhỏ trên khe suối, làm nhà nghỉ sinh thái hai tầng; tôn tạo lại đền thờ trên đỉnh núi. Người ta bảo rằng: giàu to rồi ông cựu chiến binh ạ; giàu đến cả đời con cháu chứ không phải chơi đâu.
Hiện nay, với gần 100 ha rừng thông, keo, tràm, bạch đàn đã đang thu hoạch; hàng năm ông Nhuần kiếm cả trăm triệu đồng tiền lãi không khó. Nhưng quan trọng, noi gương ông, hàng chục hộ dân huyện Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc đã lên núi trồng rừng; kẻ ít thì 5 -7 ha, người nhiều thì cả trăm ha, rồi con cháu, anh em gia tộc ông cùng lên rừng; tạo công ăn việc làm cho hàng chục người. Và cái được lớn nhất là ông đã trả được món nợ với rừng Trường Sơn; làm xanh lại đỉnh núi, tái tạo lại sinh thái cho cả quê nhà; em ruột ông một đời nghiên cứu môi trường; còn ông với bàn tay cầm súng, giờ lại cầm cuốc tôn tạo những mầm xanh... Ở tuổi 80, ông vẫn còn lo cho người trồng rừng: Trong khi Trung ương yêu cầu cấp trên hỗ trợ kinh phí cho người trồng rừng yên tâm, thì địa phương lại yêu cầu người trồng rừng đóng góp, nộp thuế; Ông cùng đề nghị các địa phương hỗ trợ các chủ trồng rừng tăng cường bảo vệ chống moi cát, chặt trộm, chống cháy rừng... để chủ rừng yên tâm; gắn bó với rừng...
Thực ra cho tới tận bây giờ, ông Nhuần mới trả được món nợ đời với những cánh rừng Trường Sơn những năm ông đánh Mỹ. Hiện tại được an lành thì ký ức được an ủi, những giấc mơ về đại ngàn trong ông cũng bềnh bồng nhẹ nhõm, bảng lãng khói sương như trong tranh thủy mặc. Vậy là ông biết mình đã thắng...
Để rồi ngày nay, ở dưới chân núi Động Thờ... người ta vẫn nói về ông với tấm lòng kính trọng; và có lẽ sau này nhiều cụ già bồng cháu, nhìn lên đại ngàn xanh thẳm, kể rằng:
“Hồi ấy... làng ta có ông cựu chiến binh Ngô Trực Nhuần hết nạn binh đao thì về quê nhà người đã tự nguyện cõng mầm xanh lên núi...”.
Trần Ngọc Khánh