Đưa sản vật vào hành trình khám phá
Rừng ngập mặn, nghề muối, nuôi trồng thủy sản cùng những sản phẩm như mật dừa nước, tổ yến, khô cá dứa tạo nguồn lực phát triển du lịch tại khu vực Cần Giờ. Những sản vật này gắn với điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm của cư dân, có thể trở thành nội dung để du khách tìm hiểu vùng đất qua chính hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân.
Tuy nhiên, theo các công ty du lịch lữ hành, từ giới thiệu đặc sản đến hình thành một chương trình du lịch vẫn còn nhiều việc phải làm. Bởi một điểm trưng bày có thể giúp khách biết thêm sản phẩm, nhưng để tạo sức hút cho hành trình, cơ sở sản xuất cần có hoạt động phù hợp, giúp khách tìm hiểu cách làm nghề và trực tiếp tham gia trải nghiệm.
Ông Nguyễn Minh Kha, Phó Chủ tịch UBND xã An Thới Đông, cho biết địa phương có hơn 10.600 ha rừng phòng hộ ngập mặn, cùng lợi thế về nghề muối, nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm đặc trưng. Đây là nền tảng để xây dựng chuỗi trải nghiệm kết hợp khám phá rừng, tìm hiểu nghề muối Lý Nhơn và tham quan di tích lịch sử, văn hóa Đình Dương Văn Hạnh.
Theo ông Kha, du khách có thể tìm hiểu sinh kế bản địa, tham gia hoạt động nghề truyền thống và mua sản phẩm tại cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, hạ tầng kết nối giữa các điểm tham quan, dịch vụ lưu trú và năng lực tổ chức tour liên hoàn còn hạn chế. Những bất cập này ảnh hưởng đến khả năng xây dựng chương trình có nhiều hoạt động, kéo dài thời gian lưu lại của khách.
Để khắc phục, ông Kha đề xuất phối hợp với doanh nghiệp lữ hành hình thành tour một ngày hoặc hai ngày một đêm, đồng thời nâng kỹ năng làm du lịch cho người dân. Các chủ thể OCOP cần chuẩn bị không gian để khách tự tay thu hoạch, chế biến, nếm thử và tìm hiểu văn hóa địa phương, thay vì chỉ tiếp cận sản phẩm qua bao bì.
Cùng với việc kết nối các điểm tham quan, mỗi cơ sở cũng cần lựa chọn nội dung trải nghiệm phù hợp với thế mạnh của mình. Tại khu vực cầu Dần Xây, hướng phát triển sản phẩm được đặt trong mối quan hệ với bảo tồn rừng và giáo dục môi trường.
Ông Lê Đình Quy, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục truyền thông môi trường và du lịch sinh thái, thuộc Ban Quản lý Rừng phòng hộ, đặc dụng TP Hồ Chí Minh, cho biết đơn vị mong muốn kết nối với các chủ thể OCOP để giới thiệu sản phẩm phù hợp, phát triển quà tặng đặc trưng và đa dạng hoạt động trải nghiệm.
Theo ông Quy, qua tham quan và tiếp cận sản phẩm, du khách có thể tìm hiểu hệ sinh thái rừng ngập mặn, câu chuyện sản xuất, văn hóa và sinh kế địa phương. Sản vật được giới thiệu ngay trong không gian gắn với nguồn gốc của chúng sẽ giúp chuyến đi có thêm nội dung để khám phá.
Từ thực tế tổ chức chương trình du lịch, ông Trương Hoàng Phương, Giám đốc Công ty Exotic Việt Nam, cho rằng nội dung giới thiệu OCOP còn thiên về công dụng, chất lượng, bao bì và hạng sao; giá trị vùng nguyên liệu, lịch sử nghề chưa được khai thác tương xứng.
Theo ông Phương, TP Hồ Chí Minh cần đưa sản phẩm vào chương trình bằng những hoạt động cụ thể như tham quan cơ sở, tìm hiểu cách chế biến, thực hành nghề hoặc thưởng thức đặc sản. Qua đó, khách có thể hiểu vùng đất từ những điều trực tiếp quan sát và trải nghiệm.
Hoàn thiện dịch vụ, duy trì kết nối với khách
Theo các chuyên gia du lịch, để những hoạt động trải nghiệm trở thành chương trình có thể đón khách thường xuyên, cơ sở sản xuất cần chuẩn bị cả sản phẩm lẫn cách phục vụ. Người dân có kiến thức về nghề, nhưng khi tham gia làm du lịch còn cần kỹ năng hướng dẫn, giới thiệu và phối hợp với đơn vị tổ chức hành trình.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra khi quảng bá điểm đến trên môi trường số. Nội dung giới thiệu có thể thu hút sự quan tâm, song trải nghiệm thực tế phải đáp ứng được kỳ vọng của khách.
Nhiếp ảnh gia, nhà sáng tạo nội dung du lịch Ngô Trần Hải An, còn được biết đến với tên Quỷ Cốc Tử, gợi ý phương pháp “3 chạm”: Hình ảnh thu hút sự chú ý, câu chuyện tạo cảm xúc, sau đó khuyến khích tìm hiểu, trải nghiệm hoặc lựa chọn sản phẩm. Ông cũng đề xuất làm video ngắn tập trung vào một nét đặc sắc, kết nối nội dung số với vùng sản xuất và dùng mã QR cung cấp thông tin nguồn gốc.
Theo ông Hải An, quảng bá cần đi cùng năng lực phục vụ thực tế. Điểm đến phải chuẩn bị hoạt động tương xứng với nội dung giới thiệu; cơ sở sản xuất phải bảo đảm chất lượng khi lượng khách và nhu cầu mua tăng. Các bên cần phối hợp từ đầu để chủ động lịch đón đoàn, thời lượng tham quan và khâu cung ứng.
Khi đã có trải nghiệm tại cơ sở, việc lựa chọn sản phẩm mang về cũng là một phần của chuyến đi. Vì vậy, sản phẩm cần có thông tin rõ ràng, hình thức phù hợp và thuận tiện để giới thiệu tại điểm du lịch, cơ sở lưu trú.
Ông Đinh Thắng, Giám đốc điều hành Khu nghỉ dưỡng Đất Rồng - Đinh Gia Trang, xã Xuân Sơn, cho rằng chủ thể OCOP cần đầu tư bao bì chuyên nghiệp, thể hiện rõ câu chuyện thương hiệu để sản phẩm có thêm cơ hội được lựa chọn. Đồng thời, chủ thể cần ứng dụng công nghệ, khai thác sàn thương mại điện tử để mở rộng thị trường.
Theo ông Thắng, việc kết nối bán hàng trực tuyến với trải nghiệm tại chỗ còn giúp duy trì quan hệ với khách sau chuyến đi. Những người đã biết nguồn gốc, được dùng thử sản phẩm có thể tiếp tục đặt hàng nếu dễ tìm thông tin và liên hệ với cơ sở.
Với sản phẩm mật dừa nước, ông Phan Minh Tiến, chủ cơ sở sản xuất mật dừa nước VIETNIPA, mong muốn khi nhắc tới TP Hồ Chí Minh và Cần Giờ, người dân, du khách nhớ đến mật dừa nước và Bến dừa nước VIETNIPA. Định hướng này gắn việc xây dựng thương hiệu sản phẩm với địa danh và nơi trải nghiệm, để khách có thể nhớ cả sản vật lẫn vùng đất làm ra sản vật.
Từ các đề xuất của địa phương, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp, yêu cầu liên kết cần được cụ thể hóa trong từng hành trình. Địa phương hỗ trợ điều kiện phát triển; doanh nghiệp lữ hành tổ chức chương trình phù hợp; chủ thể sản xuất chuẩn bị sản phẩm, không gian và nội dung trải nghiệm. Việc thống nhất lịch đón khách, thời lượng tham quan và khả năng phục vụ sẽ giúp các điểm đến phối hợp thuận lợi hơn, đồng thời tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia, hưởng lợi từ hoạt động du lịch.