Đến ngày 20/11, ngày Nhà giáo Việt Nam, chúng tôi nhớ về những ngôi trường ở vùng cao Tây Bắc, nơi mà trước đây và ngay cả hiện tại, vẫn còn những gian nan và thiếu thốn cho việc dạy chữ, học chữ.
Điều đáng khâm phục là ở chỗ, cho dù có gian khổ đến mấy, các thầy cô giáo vẫn ngày đêm “bám trụ” những điểm trường, những lớp học để miệt mài “gieo mầm” con chữ cho những ước mơ xanh…
Chênh vênh những điểm trường ở vùng cao Bảo Yên. |
Bám trụ vùng cao
“Yêu người bao nhiêu yêu nghề bấy nhiêu…”, có lẽ từ lâu, câu hát này đã thấm sâu vào tâm hồn những người thầy, người cô ở vùng cao Tây Bắc và trở thành khẩu hiệu để họ hướng lòng mình về những nơi con chữ và những tâm hồn non trẻ đang đón đợi.
Thầy Hán Văn Học trong buổi tuyên truyền cho học sinh nhà trường. |
Thầy giáo Hán Văn Học (sinh năm 1977), Bí thư chi bộ, Hiệu trưởng trường THCS Nghĩa Đô (Bảo Yên - Lào Cai) là một trong những thầy cô giáo như thế. Tốt nghiệp ngành sư phạm ngoại ngữ, thầy Hán Văn Học (Dân tộc Tày) đã rời miền quê Báo Đáp - Trấn Yên - Yên Bái lên Nghĩa Đô dạy học vào năm 2001, khi con đường 279 từ Phố Ràng vào Nghĩa Đô còn đi lại khó khăn, Nghĩa Đô khi ấy như một “hoang đảo” xa xôi vì chưa có điện, nước sinh hoạt thiếu liên miên đến hàng vài tuần. Sự nghiệp giáo dục Nghĩa Đô ngày ấy là mô hình trường học liên cấp 1-2 đóng tại trường Tiểu học Nghĩa Đô ngày nay.
Là một thầy giáo trẻ, năng động, nhiệt tình, cùng chung tiếng nói với đồng bào Tày và học trò nơi đây nên thầy Học đã nhanh chóng bắt nhịp với điều kiện khó khăn của địa phương để vừa chia sẻ, vừa gánh vác trách nhiệm mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Những ngày đầu, lớp học tuềnh toàng bằng tranh tre nứa lá, ở nhà tập thể làm tạm bằng cây rừng và vách nứa, nước thiếu, điện thiếu… khó lòng kể hết những khó khăn mà thầy Học cùng đồng nghiệp đã vượt qua. Có lẽ chỉ ngọn đèn dầu, những trang giáo án viết tay còn giữ lại kỷ niệm đủ để nói lên những gian nan của nghề giáo. Sau khi Nghĩa Đô tách trường để hoàn thiện các cấp học, thầy Hán Văn Học chuyển sang giảng dạy tại trường THCS Nghĩa Đô và được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng từ tháng 9 năm 2004. Đến nay, thầy Học đã làm công tác quản lý nhà trường ở nhiệm kỳ thứ 2.
Khi bắt đầu công việc dạy học đến nay, thấm thoắt đã 12 năm thầy Học bám trụ mảnh đất Nghĩa Đô. Biết bao vui buồn, nhọc nhằn và gian khổ của công việc dạy học nơi vùng đất còn gặp nhiều khó khăn được thầy và đồng nghiệp coi đó là những kỷ niệm đẹp của nghề dạy học, còn hiện tại và phía trước là ngôi trường, là học trò và sự tâm huyết với con chữ của vùng cao Nghĩa Đô. Từ những lớp học tranh tre nứa đơn sơ, thầy Học cùng đồng nghiệp, chính quyền và nhân dân từng bước tu sửa, chỉnh trang và làm cho cảnh quan trường lớp học ngày một khang trang. Đến nay, trường THCS Nghĩa Đô đã được đầu tư xây dựng hai dãy nhà hai tầng, một nhà điều hành và các phòng học bộ môn. Thầy Học cho biết hiện nay, trường THCS Nghĩa Đô đang trên lộ trình xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 1.
Phía sau con chữ
Cô giáo Vũ Thị Trang giáo viên trường THPT số 3 Bảo Yên, người ở tận Lục Ngạn (Bắc Giang) đã có gần 10 năm bám trụ mảnh đất Nghĩa Đô. Tốt nghiệp đại học sư phạm tiếng Anh, cô Trang theo tiếng gọi của vùng cao Lào Cai lên nộp hồ sơ xin công tác. Sở Giáo dục tỉnh phân công cô về một trường cấp III mới thành lập ở xã Nghĩa Đô (nay là trường THPT số 3). Điện không có, nhà ở cho giáo viên và lớp học cho học sinh cũng tạm bợ bằng tranh tre nứa lá. Những ngày đầu xa nhà, nhớ quê cảm giác dài đằng đẵng như cả năm vậy. Tối đến, căn phòng chật hẹp chưa đầy 15 m2 mà chứa đến bốn giáo viên, nhưng tứ phía vách nứa hở toang hoác, gió thông thốc thổi. Đêm đêm chỉ có đèn dầu leo lét để thắp sáng và soạn giáo án. Những ngày đầu ở Nghĩa Đô, cô Trang thấy đêm dài hơn ngày và chỉ muốn ngày kéo dài thêm.
Cô giáo Vũ Thị Trang (áo dài) cùng học trò trường THPT số 3 Bảo Yên. |
Bởi chỉ đến 18 giờ tối là trời tối mịt, xung quanh toàn núi và cây. Phòng ở giống như “khách sạn ngàn sao”, bị dột tứ phía vì thế đêm mưa các giáo viên càng thêm nỗi nhớ nhà. Nước sinh hoạt ở trường chỉ trông chờ vào bể nước của dự án 135 tận trên nguồn dẫn về. Những khi trời mưa, nước đục hàng tuần không dùng được, cả khu tập thể đành mang xô, chậu vào nhà dân xin nước sạch. Đến giờ tuy đã sắp được 10 năm “cắm xã” dạy chữ nhưng cô Trang nhớ lắm hình ảnh lớp học khi cô mới bước vào nghề. Nó chỉ là khung gỗ ghép tạm vào nhau nên tạo cảm giác chênh vênh.
Nền lớp học bằng đất đầm nhẵn nhưng mau chóng bung ra toàn bột đất. Sau mỗi tiết học chân trò, chân cô đỏ đất cát. Khi cô mới đến dạy học, không phải bọn trẻ đứa nào cũng ham học như bây giờ mà do cuộc sống khó khăn, chúng bỏ học lên nương rẫy làm giúp bố mẹ. Vậy là, có những buổi chiều cô phải chèo đèo lội suối đến tận những bản xa để “nịnh” bọn trẻ ra lớp.
Một năm, hai năm, “đất bén duyên người”, cô Trang thấy quen dần mảnh đất Nghĩa Đô, thấy yêu thương học trò và dân bản vùng cao. Tôi gặng hỏi, những lúc công việc và cuộc sống khó khăn, chị có ý định chuyển công tác hay chuyển về quê không? Cô Trang cười, thành thật nói: “Khi tốt nghiệp sư phạm, không ai muốn dấn thân vào những vùng khó. Nhưng khi đến rồi, thấy gắn bó với học trò và nhân dân nên đành gác lại những nỗi lo cá nhân để sống và dạy chữ. Mình ở đây quen khổ rồi nên cố gắng dạy cống hiến cho đồng bào. Viên phấn ở đâu mà chẳng trắng, nhưng học trò ở đây thiệt thòi hơn…”. Nghe vậy, lòng tôi nghẹn lại. Tiếng nói của cô có cái hoang hoải của núi rừng. Phía sau cô và đồng nghiệp luôn có biết bao ước mơ của con trẻ. Các thầy cô là những người nuôi lớn ước mơ đó.
Viết nên “Cổ tích”
Từ trên cao nhìn xuống, Cọ Sơn (Tân Sơn - Phú Thọ) như một lòng chảo quanh năm sương mù bao phủ. Cây cối rậm rạp, mùa đông, cái rét thấu xương làm cho ai ai cũng phải e ngại bởi sự khắc nghiệt của mùa đông ở đây. Từ lâu, Cọ Sơn vẫn được xem là một trong những bản nghèo của xã Thu Ngạc. Cuộc sống của đồng bào Mường ở đây còn nhiều gian truân lắm cộng với đường xá đi lại còn khó khăn nên chuyện học trước đây vẫn còn mong manh trong suy nghĩ của người dân. Và như vậy, phân hiệu trường Tiểu học của Thu Ngạc tại bản Cọ Sơn đã được mở để đáp ứng khát khao cháy bỏng ấy của trẻ em nơi đây.
Cô Thoa vượt rừng dạy chữ hơn 20 năm nay ở Cọ Sơn. |
Cô giáo Nguyễn Thị Thoa đã tình nguyện xung phong lên dạy chữ ở Cọ Sơn ngay từ những ngày đầu, và cho đến hôm nay, cô Thoa vẫn miệt mài, thao thức và dìu dắt bọn trẻ ở Cọ Sơn. 24 năm gắn bó với Cọ Sơn cùng với bao nỗi nhọc nhằn mỗi lần “chống gậy” leo núi để dạy chữ, cô Thoa vẫn nhớ từng chi tiết về cuộc sống và quá trình công tác ở vùng cao hẻo lánh này.
Ngày nào cũng vậy, từ ngày đầu cô Thoa đến Cọ Sơn dạy học, cô đều dậy từ rất sớm, chuẩn bị giáo án để vượt hơn 8 km đường suối, đường rừng để đem đến cho các em cái chữ không kể nắng mưa. Có những ngày trời mưa to, lũ lớn, cô Thoa phải chống gậy đi tắt lên đường rừng rồi lại vòng xuống rất nhọc nhằn. Cô Thoa cho biết, những ngày đến đây dạy chữ, cô vượt lên trên tất cả những khó khăn về phía gia đình. Chồng cô ốm yếu, các con học xa rồi đồng lương hợp đồng ít ỏi có lẽ chẳng đủ cho trang trải cuộc sống. Những giờ tan lớp, cô cùng các con phải trồng lúa, trồng khoai để cải thiện cuộc sống. Với tấm bằng trung cấp sư phạm, qua những đợt biên chế của huyện đã để lại sự thiệt thòi lớn cho cô vì bằng cấp hiện nay của sinh viên mới ra trường cao hơn rất nhiều.
Ở Cọ Sơn, thời tiết vùng cao giá lạnh, mây mù thiếu áo mặc cộng với cái đói, cái nghèo những ngày giáp hạt làm cho bước chân của học trò thêm nhiều khó khăn. Biết vậy, cô Thoa không nản lòng mà càng làm cho cô yêu nghề, yêu thương học trò. Cô từng đi đến tận nhà học sinh để vận động khi biết các em có nguy cơ bỏ học, cô động viên, vỗ về, chia sẻ từng em mỗi khi đến lớp. Từ đó, học trò của cô ít bỏ học, nghe lời cô, các em vẫn đến trường đều đặn. Cô Thoa tâm sự: “ Chỉ mong các em có được chữ để sau này cuộc sống sẽ tốt hơn, sáng sủa hơn”. Hơn nữa, cô Thoa cũng là người Mường bản địa nên hơn bao giờ hết, cô hiểu thấu nỗi vất vả và những ước mơ cháy bỏng của con trẻ ở Cọ Sơn.
Nhọc nhằn là thế, nhưng cô chưa một lần bỏ dở công việc. Tôi tự hỏi, điều gì khiến cô vẫn ở lại với lớp học này? Phải là một lý do nào đó lớn hơn hàng nghìn lần mức lương cô được hưởng hiện nay? Tôi ái ngại hỏi thì cô trầm tư trả lời: “Mình chuyển thì ai sẽ là người đứng lớp này”. Có lẽ vậy, bởi vào Cọ Sơn với đường đất ấy ai cũng phải lắc đầu. Chúng tôi lặng đi và cảm phục trước câu trả lời của cô Thoa. Có lẽ, dạy chữ ở Cọ Sơn, cô Thoa không mong gì sự vinh danh, không mong gì được tặng thưởng những món quà hay thưởng Tết, cô chỉ mong trẻ em ở Cọ Sơn có được con chữ để ấm lòng. Cọ Sơn hôm nay sẽ có cô Thoa để thay cho nhiều điều còn thiếu trong cuộc sống. Bởi khi con chữ về bản thì cuộc sống sẽ sáng sủa hơn và tràn đầy hi vọng ở phía trước.
Bầu trời Cọ Sơn những ngày cuối năm lạnh tái tê nhưng trong vắt một màu. Cọ Sơn đang viết cho mình một câu chuyện cổ tích thật đẹp và ấm áp. Câu chuyện gieo chữ của cô Thoa cùng các thầy cô giáo khác như những câu chuyện cổ tuyệt vời, giúp chúng tôi bớt đi những trăn trở trước nhiều điều rối bời trong giáo dục đang hiện diện trong cuộc sống.
Bài và ảnh:Nguyễn Thế Lượng