Phát triển văn hóa không chỉ là bảo tồn quá khứ, mà là kích hoạt nguồn lực nội sinh cho tương lai. Để đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị vào chiều sâu thực tiễn, Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai chiến lược xoay trục toàn diện hệ thống thiết chế bảo tàng. Từ bỏ tư duy “khép kín” của những kho lưu trữ truyền thống, Thành phố đang hướng tới kiến tạo một “hệ sinh thái di sản sống” gắn với công nghệ số, biến tài nguyên ký ức thành động lực mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa phát triển bền vững.

Nằm ở tâm điểm của vùng đô thị năng động, Thành phố Hồ Chí Minh đang sở hữu mạng lưới bảo tàng có quy mô và chất lượng đứng đầu cả nước. Theo ông Nguyễn Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống bảo tàng của Thành phố có lịch sử phát triển lâu đời, tiêu biểu như Bảo tàng Lịch sử Thành phố được kế thừa từ Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành lập từ năm 1929, với hành trình nghiệp vụ gần một thế kỷ. Đến nay, toàn địa bàn có 25 bảo tàng (14 bảo tàng công lập và 11 bảo tàng ngoài công lập), sở hữu và quản lý gần 700.000 hiện vật, tài liệu (trong đó có gần 300.000 hiện vật gốc) và 24 bảo vật quốc gia.

Khách tham quan một trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh (phường Sài Gòn).

Đáng chú ý, trong hệ thống bảo tàng công lập trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao, có tới 7/9 bảo tàng được xếp hạng nhất (chiếm 38,8% bảo tàng hạng nhất của cả nước) và là thành viên chính thức của Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (ICOM). Khối bảo tàng ngoài công lập cũng phát triển mạnh mẽ với 11 cơ sở hoạt động năng động.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2021 - 2025, bất chấp 2 năm chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, hệ thống bảo tàng của Thành phố vẫn phục vụ một con số kỷ lục: 13,5 triệu lượt khách, trong đó có gần 4 triệu lượt khách quốc tế. Riêng năm 2025, tổng lượt khách đạt hơn 4,4 triệu, tăng 17,1% so với năm 2024.

Đó là những con số ấn tượng, song các chuyên gia đã thẳng thắn nhận diện những “khoảng trống” lớn trong công tác quản trị. Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh phân tích, dù bảo tàng khá đa dạng nhưng trên thực tế vẫn chưa thực sự hấp dẫn công chúng. Hệ thống thiết chế này còn phân tán về không gian và thiếu tính kết nối chặt chẽ. Hiện trạng vận hành của đa số đơn vị vẫn rập khuôn theo mô hình truyền thống “khép kín”, thiên về trưng bày hiện vật tĩnh hơn là kể chuyện và diễn giải hiện vật. Điều này vô hình trung tạo ra sự rời rạc trong cách tái hiện lịch sử.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.

“Một điểm nghẽn cố hữu khác là sự trùng lặp loại hình hiện vật và sự chồng lấn về mặt nội dung giữa các đơn vị. Nhiều bảo tàng cùng kể những câu chuyện lịch sử hoặc trình bày các sự kiện giống nhau, trưng bày cổ vật tương tự nhau mà thiếu đi sự “phân vai” rõ ràng, khiến hình thức trưng bày trở nên đơn điệu, gây ra sự trải nghiệm rời rạc và dễ làm khách tham quan mất định hướng”, Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu nhận định.

Đồng quan điểm, Tiến sỹ Nguyễn Thị Tú Anh, Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cũng chỉ ra rằng, hệ thống bảo tàng tại Thành phố đang phải đối mặt với nhiều hạn chế mang tính cấu trúc và vận hành, làm suy giảm khả năng đổi mới và hội nhập quốc tế. Một trong những “nút thắt” nổi bật là sự phụ thuộc vào các phương thức trưng bày truyền thống, thay vì các trải nghiệm tương tác hoặc nhập vai. Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn do tiến độ số hóa còn chậm.

Theo các chuyên gia, bảo tàng đang thiên về trưng bày hiện vật tĩnh hơn là kể chuyện và diễn giải hiện vật.

Tiến sỹ Nguyễn Thị Tú Anh chia sẻ: “Bên cạnh các hạn chế về công nghệ, rào cản ngôn ngữ cũng là một vấn đề đáng lưu ý, đặc biệt trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đón lượng lớn du khách quốc tế mỗi năm. Hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến trải nghiệm tham quan, mà còn làm suy giảm khả năng của bảo tàng trong việc trở thành không gian đối thoại liên văn hóa và hội nhập”.

Ông Trần Anh Thiện, Phó Giám đốc Bảo tàng - Thư viện Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết, dù đơn vị đã nỗ lực số hóa, nhưng thực tế hiện nay, số lượng tư liệu được số hóa vẫn còn khá khiêm tốn so với quy mô. Tính đến nay, bảo tàng mới chỉ số hóa 3D được 812 trên tổng số 74.314 hiện vật đang lưu giữ. Trong đó, các sưu tập còn phân tán và chiếm tỷ lệ thấp như sưu tập thiên nhiên biển Côn Đảo chỉ có 19 hiện vật, thực vật Bình Châu - Phước Bửu có 22 hiện vật, khảo cổ học có 68 hiện vật và sưu tập hiện vật ngành nghề thủ công truyền thống mới đạt 118 hiện vật. Riêng công tác số hóa 2D mới tập trung được 25.000 hiện vật, chủ yếu ở các bộ sưu tập cổ vật, hiện vật khảo cổ và hiện vật kháng chiến.

Triển lãm chuyên đề “Sen trong đá” tại Bảo tàng Côn Đảo.
 

Một nghịch lý lớn được chuyên gia phân tích là dù có lịch sử khởi lập và phát triển đô thị đặc sắc, song Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có một không gian bảo tàng nào phản ánh toàn diện bức tranh xã hội, văn hóa, nghệ thuật của vùng đất Sài Gòn - Gia Định qua các thời kỳ. Hoạt động của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh hiện tại vẫn mang dáng dấp của một bảo tàng khảo cứu địa phương, cấu trúc trưng bày tương tự như nhiều tỉnh, thành khác mà chưa làm nổi bật được tính chất trung tâm, tính hội tụ và đa lớp của một siêu đô thị.

Nhìn nhận trực diện vào thực trạng này, Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu cho rằng, sự thiếu vắng một “bảo tàng thành phố” đúng nghĩa đã làm cho việc bảo tồn di sản văn hóa còn thiếu sót lớn. Rất nhiều hiện vật, tài liệu về các mặt đời sống xã hội - văn hóa - nghệ thuật của Thành phố chưa được sưu tầm, lưu giữ, nghiên cứu và trưng bày. Thực trạng này tạo nên một “khoảng trống” lớn trong việc định vị bản sắc của một trung tâm văn hóa - sáng tạo độc đáo mang tính cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á.

Trưng bày chuyên đề “Chúng tôi, những dòng sông Nam Bộ” tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.

Để lấp đầy “khoảng trống” ký ức này và tái cấu trúc hệ thống bảo tàng tương xứng với tầm vóc “siêu đô thị”, theo các chuyên gia, Thành phố không thể tiếp tục loay hoay với những giải pháp mang tính cục bộ, ngắn hạn mà cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược, thay đổi từ tư duy quản trị đến công nghệ hiển thị. Trước hết, việc phá vỡ tư duy quản lý khép kín kiểu “đèn nhà ai nhà nấy rạng” để hướng tới một tầm nhìn liên vùng là bước đi tiên quyết.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu, Thành phố cần chủ động đứng ra xây dựng mô hình “Mạng lưới bảo tàng vùng” nhằm tối ưu hóa tài nguyên ký ức. Mô hình này sẽ kết nối liên thông dựa trên thế mạnh đặc trưng của từng khu vực. Trong đó, khu vực lõi trung tâm (Thành phố Hồ Chí Minh cũ) đóng vai trò hạt nhân điều phối tổng thể, khu vực Bình Dương được định vị chuyên sâu vào di sản làng nghề - công nghiệp, còn Bà Rịa - Vũng Tàu đại diện cho di sản biển và cảng thị. Sự “phân vai” mang tính chiến lược này vừa triệt tiêu sự trùng lặp hiện vật, vừa tạo ra một mạch diễn giải lịch sử - văn hóa liên tục, đa chiều và toàn diện cho cả siêu đô thị.

Bảo tàng cần mở rộng không gian, kết nối với các tuyến di sản sống của cộng đồng.

Theo định hướng chiến lược tầm nhìn đến năm 2030, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ thiết lập cơ chế liên kết mạng lưới bảo tàng vượt qua ranh giới hành chính truyền thống. Nhằm hiện thực hóa tầm nhìn liên kết vùng đã được các chuyên gia đề xuất, Thành phố đang thúc đẩy việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật chung, chia sẻ kho dữ liệu hiện vật đồng bộ với các địa phương lân cận. Trong nội tại Thành phố, việc tái cấu trúc dựa trên các trục không gian đặc thù, kết nối trực tiếp cửa bảo tàng với các tuyến di sản sống của cộng đồng tại các khu phố cổ Chợ Lớn hay hệ thống di tích cách mạng ven sông.

Bên cạnh giải pháp về không gian vật lý, việc thay đổi hệ hình tiếp cận công chúng thông qua công nghệ chính là chìa khóa để “hồi sinh” các di sản. Thạc sỹ Nguyễn Thị Huỳnh Như (Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh) nhìn nhận, các bảo tàng phải quyết liệt dịch chuyển từ mô hình lấy hiện vật làm trung tâm (trưng bày tĩnh) sang mô hình lấy công chúng làm trung tâm (tạo trải nghiệm) bằng cách ứng dụng sâu công nghệ đa giác quan như VR, AR, Hologram và trí tuệ nhân tạo (AI). Việc số hóa và công nghệ hóa này không chỉ dừng lại ở việc làm sinh động các phòng trưng bày, biến các kho lưu trữ “tĩnh” thành không gian trải nghiệm “động”, mà còn giúp bảo tàng bước ra ngoài những bức tường hành chính để tích hợp, "gọi tên" các “di sản sống” ngay trong lòng đô thị như chợ truyền thống hay hẻm phố vào dòng chảy ký ức chung.

Du khách tham quan trưng bày tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh.

Tuy nhiên, mọi chiến lược về liên vùng hay công nghệ sẽ chỉ dừng lại ở mức ý tưởng nếu không giải được bài toán căn cơ về cơ chế vận hành và con người. Một cơ chế đột phá trong quản trị nhằm tăng cường tự chủ tài chính, đa dạng hóa nguồn lực xã hội chính là điều kiện tiên quyết.

Từ góc nhìn thực tế vận hành của khối ngoài công lập, bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo dài nhấn mạnh, việc tháo gỡ rào cản cơ chế chính là chiếc “chìa khóa vàng” để đổi mới quy chế tuyển dụng. Khi hệ thống bảo tàng có đủ sự linh hoạt và tự chủ, họ mới có thể thu hút và giữ chân dòng nhân sự chất lượng cao từ các ngành công nghệ, thiết kế và marketing - nguồn lực cốt lõi và là xung lực mới để hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái di sản hiện nay.

Trưng bày chuyên đề “Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của phụ nữ dân tộc Mạ ở xã Tà Lài, tỉnh Đồng Nai” tại Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.
 

Sự bứt phá lớn nhất trong việc xây dựng hệ sinh thái di sản sống nằm ở bước chuyển từ mô hình lưu giữ hiện vật truyền thống sang kiến tạo trải nghiệm tương tác thông qua sự nhập cuộc của công nghệ. Thay vì chỉ là những thiết chế văn hóa tĩnh, đóng khung lịch sử trong tủ kính, các bảo tàng lớn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động ứng dụng công nghệ để biến di sản thành một “cơ thể sống”, giúp công chúng không chỉ là người quan sát thụ động mà trở thành chủ thể tham gia tích cực vào quá trình khám phá.

Tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, ứng dụng công nghệ đã mang lại những thay đổi có tính chất bước ngoặt. Ông Lâm Ngô Hoàng Anh, Phó Giám đốc phụ trách quản lý và điều hành bảo tàng chia sẻ, trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, đơn vị đã triển khai hàng loạt giải pháp công nghệ tích cực như số hóa 3D và trải nghiệm thực tế ảo (VR) để phục vụ công chúng. Không chỉ dừng lại ở việc tham quan trực tiếp, du khách khắp nơi trên thế giới có thể truy cập website của bảo tàng để theo dõi các không gian trưng bày chuyên đề, trưng bày cố định thường xuyên qua hệ thống trưng bày ảo 3D.

Các bảo tàng đã triển khai hàng loạt giải pháp công nghệ tích cực như số hóa 3D và trải nghiệm thực tế ảo (VR) để phục vụ công chúng.

Chính sự nhập cuộc của công nghệ đã giúp các trưng bày “chạm” sâu vào cảm xúc của người xem. Anh Carlos Magno, một du khách đến từ Brazil xúc động bày tỏ, đây là lần đầu tiên anh đến Việt Nam, việc ghé thăm bảo tàng thực sự mang lại cho anh những trải nghiệm ấn tượng và nhận thức sâu sắc. Những hình ảnh, tư liệu chân thực kết hợp giải pháp tương tác hiện đại đã truyền tải thông điệp về sự khốc liệt của chiến tranh và giá trị cao cả của hòa bình, thôi thúc anh mong muốn lan tỏa tinh thần nhân văn này đến bạn bè thế giới.

Cùng chung định hướng dịch chuyển từ “tĩnh” sang “động”, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đã gặt hái được nhiều kết quả quan trọng khi trở thành một trong những đơn vị đầu tiên được Thành phố Hồ Chí Minh lựa chọn thực hiện chương trình chuyển đổi số ngành văn hóa.

Ông Nguyễn Quốc Chính, Phó Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ cho biết, đơn vị đã xác định đẩy mạnh chuyển đổi số trong các hoạt động quản lý và trưng bày là một trong ba nhóm giải pháp chiến lược cốt lõi đến năm 2030. Cụ thể, bảo tàng đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn thực hiện quét và số hóa hơn 1.000 hiện vật để trình chiếu trên công nghệ hologram, đồng thời xây dựng hệ thống tham quan 360 độ tích hợp lên trang thông tin điện tử.

Các bảo tàng tăng cường dịch vụ trải nghiệm và sự “nhập vai” của công nghệ, nhằm thu hút khách đến tham quan.

Theo ông Nguyễn Quốc Chính, trước đây, khách tham quan chỉ có thể nhìn hiện vật dưới dạng mặt phẳng 2D, nhưng nay, với công nghệ số, du khách được tiếp cận góc nhìn 3D đa chiều, có thể xoay, bao quát toàn cảnh 360 độ. Sự chuyển đổi từ “vật thể chết” sang “hiện vật sống” này đã tạo nên sự trực quan sinh động, mang lại sức hút mạnh mẽ và giúp công chúng cảm nhận trọn vẹn hơn những giá trị kiên cường, bất khuất, trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

Đặc biệt, cả hai bảo tàng này đều đang sở hữu những chiến lược tiếp cận rất nhạy bén đối với thế hệ trẻ (Gen Z) - tệp công chúng tương lai của di sản. Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh không giáo dục lịch sử một cách đơn thuần hay áp đặt, mà chọn cách thu hút bằng sức hấp dẫn tự nhiên và lan tỏa tình yêu hòa bình. Sau khi trải qua những cung bậc cảm xúc mạnh mẽ trong không gian trưng bày, các bạn trẻ được tương tác trực tiếp tại những không gian mở như viết lời chúc, gửi gắm cảm nghĩ gắn trên các cây tre, bức tường lưu niệm ngay tại khu trưng bày. Đơn vị tận dụng triệt để các đoạn video ngắn, nội dung hấp dẫn đưa lên website, Facebook để biến mỗi bạn trẻ thành một kênh truyền thông lan tỏa giá trị.

Song song đó, Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ cũng thu hẹp khoảng cách với Gen Z bằng việc đẩy mạnh quảng bá trên các trang fanpage và xây dựng kênh TikTok. Những đoạn phim ngắn với thời lượng từ 30 đến 60 giây giới thiệu súc tích, độc đáo về từng câu chuyện hiện vật, từng nội dung lịch sử đã kích thích sự tò mò, khiến giới trẻ thích thú, chủ động tìm đến bảo tàng.

Bảo tàng cần bước ra ngoài những bức tường hành chính để tích hợp, "gọi tên" các “di sản sống” ngay trong lòng đô thị. Trong ảnh: Biểu diễn nghệ thuật múa Lân sư rồng qua các tuyến phố dịp Lễ hội Nguyên Tiêu 2026 tại Chợ Lớn.
 

Theo các chuyên gia du lịch nhìn nhận, hệ thống bảo tàng tại Thành phố Hồ Chí Minh cần được ưu tiên đầu tư có trọng điểm để trở thành điểm đến chiến lược cho phân khúc du lịch MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm) chất lượng cao. Để thu hút dòng khách chi tiêu cao này, bảo tàng phải là nơi cung ứng các sản phẩm sáng tạo dựa trên di sản mang tính độc bản, theo định hướng sản phẩm văn hóa “xuất khẩu tại chỗ” và đặc biệt là định vị bảo tàng thành hạt nhân của nền kinh tế đêm.

Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh chuẩn bị ra mắt một không gian văn hóa độc đáo nhằm tăng trải nghiệm cho du khách vào ban đêm.

Nắm bắt xu thế tất yếu này, các bảo tàng tại Thành phố Hồ Chí Minh đang âm thầm xây dựng các bước đi chiến lược cho kinh tế đêm. Ông Lâm Ngô Hoàng Anh, Phó Giám đốc phụ trách quản lý và điều hành Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh khẳng định, kinh tế đêm là xu thế bắt buộc đối với mỗi điểm di tích văn hóa trên thế giới và đơn vị không thể đứng ngoài cuộc. Bảo tàng đang hoàn thiện các khâu cuối cùng để chuẩn bị công bố đến công chúng một dự án du lịch đêm độc đáo. Đây sẽ là một không gian trải nghiệm lịch sử văn hóa đột phá, kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ hình ảnh, âm thanh sống động và nghệ thuật trình chiếu, hứa hẹn trở thành một sản phẩm kinh tế sáng tạo tiêu biểu về đêm của Thành phố.

Cùng nằm trên trục định hướng mở rộng kinh tế sáng tạo về đêm, các đơn vị di sản liên vùng cũng đang tăng tốc đa dạng hóa dịch vụ. Bảo tàng - Thư viện Bà Rịa - Vũng Tàu (Cơ sở Côn Đảo) đang khẩn trương phối hợp với các đối tác tư vấn để xây dựng và sớm triển khai chương trình “Trải nghiệm đêm” ngay tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Đảo. Đây được xem là bước đột phá lần đầu tiên xuất hiện tại hòn đảo này nhằm tối ưu hóa giá trị của “trường học” lịch sử sống động vào ban đêm, tạo điểm nhấn độc đáo lan tỏa sâu rộng chiều sâu di sản và nâng tầm chuỗi cung ứng du lịch văn hóa.

Du khách thăm bảo tàng tại Côn Đảo.

Không đứng ngoài luồng chuyển dịch, ở khối ngoài công lập, mô hình “Chợ quê” của Bảo tàng Áo dài cũng phát huy tính năng động kinh tế đêm khi liên tục duy trì và nâng cấp không gian trải nghiệm văn hóa truyền thống. Bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo dài chia sẻ, thông qua việc kết hợp giữa thiết chế bảo tàng với các hoạt động ẩm thực dân gian ban đêm, các chương trình trình diễn nghệ thuật phi vật thể đại diện nhân loại như đờn ca tài tử, hát ru... dưới sự tham gia trực tiếp của cư dân bản địa, bảo tàng đã hình thành nên một hệ sinh thái dịch vụ khép kín thân thiện. Sáng kiến kinh tế trải nghiệm này vừa giúp gia tăng mạnh mẽ thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách, vừa tạo thêm sinh kế bền vững cho người nông dân quanh khu vực, chứng minh vai trò động lực hạt nhân kinh tế sáng tạo của hệ thống bảo tàng đô thị hiện đại.

Dù vậy, hành trình kiến tạo động lực kinh tế sáng tạo của các bảo tàng vẫn đang đối diện với không ít điểm nghẽn về nguồn lực. Để giải bài toán này, các bảo tàng tại Thành phố Hồ Chí Minh không còn thụ động chờ nguồn kinh phí cấp phát mà đang chuyển mình thành những đơn vị tự chủ linh hoạt.

Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đang đẩy mạnh xã hội hóa, từng bước tiến tới tự chủ toàn phần.

Minh chứng rõ nét là Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh đang vận hành theo mô hình đơn vị sự nghiệp nhóm 2, tự chủ chi thường xuyên. Sự thay đổi về mặt tư duy quản trị kinh tế di sản đã đem lại những kết quả ấn tượng ngay trong những tháng đầu năm 2026. Lãnh đạo bảo tàng này chia sẻ, năm 2026, dự báo lượng khách đến sẽ sụt giảm do các chuỗi sự kiện kỷ niệm lớn như A50, A80 đã đi qua. Tuy nhiên, nhờ tăng cường dịch vụ trải nghiệm và triển khai đồng bộ giải pháp công nghệ, lượng khách đến bảo tàng không những không giảm mà còn tăng trưởng mạnh mẽ.

"Cụ thể, việc đưa vào áp dụng hệ thống bán vé trực tuyến (online) từ đầu tháng 2 năm 2026 (trước Tết Nguyên đán), kết hợp thanh toán không dùng tiền mặt và soát vé tự động đã mang lại hiệu quả vượt bậc, giúp tối ưu hóa thời gian và sẵn sàng hành trình cho du khách”, Phó Giám đốc Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh Lâm Ngô Hoàng Anh cho biết thêm.

Tương tự, tại Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, ông Nguyễn Quốc Chính chia sẻ dù trước đây hoạt động không thu phí, nhưng trong lộ trình chiến lược đến năm 2030, đơn vị cũng đang triển khai đề án bán vé tham quan, tăng cường kết nối với trường học và doanh nghiệp để đẩy mạnh xã hội hóa, từng bước tiến tới tự chủ toàn phần.

Ông Trần Thế Thuận, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.

Để tạo động lực bứt phá cho kinh tế sáng tạo, việc tái cấu trúc hệ thống bảo tàng theo tinh thần Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị là một hành trình dài hạn, đòi hỏi sự thay đổi triệt để về tư duy quản lý. Ông Trần Thế Thuận, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh toàn ngành cần tập trung phát triển hệ thống bảo tàng theo định hướng “chuyên nghiệp - hiện đại - bản sắc”, biến thiết chế này thành nơi lưu giữ ký ức đô thị, không gian giáo dục cộng đồng, không gian sáng tạo văn hóa và điểm đến du lịch hấp dẫn.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, ông Trần Thế Thuận định hướng các giải pháp mũi nhọn: Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ để xây dựng cơ sở dữ liệu số, xóa bỏ định kiến về “hiện vật chết”, tăng khả năng tương tác của công chúng; tập trung đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về công nghệ thông tin, bảo quản trị liệu và giám tuyển bảo tàng; tăng cường liên kết, giao lưu quốc tế để phấn đấu trong giai đoạn 2028 - 2030, các bảo tàng đủ điều kiện sẽ đạt tiêu chuẩn xếp hạng nhất, trở thành thành viên chính thức của ICOM và từng bước thực hiện tự chủ chi thường xuyên.

Khi các bảo tàng đổi mới tư duy, ứng dụng giải pháp tương tác thông minh và định vị mình là một “mắt xích” trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa và kinh tế đêm, công chúng vẫn sẽ trực tiếp tìm đến ngày càng đông đảo để trải nghiệm những giá trị thực chứng. Với các giải pháp quyết liệt của ngành văn hóa, hệ thống bảo tàng kỳ vọng sẽ chuyển mình thành công, trở thành nguồn lực nội sinh vững chắc đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, đưa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị đi vào chiều sâu trên Thành phố mang tên Bác.

VIDEO: Định vị bảo tàng trong chuỗi tăng trưởng kinh tế sáng tạo:

***
Bài: Hữu Duyên
Ảnh, video: TTXVN - TTXVN phát - Báo TT&DT
Biên tập: Kỳ Thư
Trình bày: Phùng Sắc

27/06/2026 05:55