Sự kiện không chỉ đánh dấu bước tiến của ngành vi mạch bán dẫn mà còn cho thấy những chuyển động cụ thể trong thực hiện chủ trương phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Thành quả này mở ra hướng tiếp cận mới trong làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia và chủ quyền số trong tình hình mới.
Từ nghiên cứu đến làm chủ công nghệ bảo mật
Trong hơn 80 năm xây dựng và phát triển, ngành Cơ yếu Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ các thuật toán mật mã trên nền tảng phần mềm để bảo vệ bí mật nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin trong môi trường số, việc chỉ làm chủ thuật toán mà chưa kiểm soát được hoàn toàn phần cứng đặt ra những giới hạn nhất định. Bài toán mới là phải đưa trực tiếp thuật toán mật mã quốc gia vào chip, hình thành lớp bảo vệ ngay từ nền tảng phần cứng, hạn chế nguy cơ lộ lọt dữ liệu từ các thành phần công nghệ nhập khẩu.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Ban Cơ yếu Chính phủ và Viettel đã phối hợp phát triển nền tảng bán dẫn bảo mật, trong đó VGC v1.0 là sản phẩm đầu tiên. Theo đó, M2 - Ban Cơ yếu Chính phủ xác định yêu cầu bảo mật, xây dựng thuật toán và tiêu chí đánh giá; Trung tâm Bán dẫn Viettel đảm nhiệm thiết kế vi mạch và hiện thực hóa bản thiết kế thành chip. Sự phối hợp giữa cơ quan có chuyên môn sâu về mật mã và doanh nghiệp có năng lực thiết kế vi mạch cho thấy cách tiếp cận gắn kết nghiên cứu với phát triển sản phẩm, kết hợp thế mạnh của các chủ thể trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ quốc gia.
Chip VGC v1.0 có kích thước đóng gói 10 x 10 mm, chứa 300 triệu bóng bán dẫn (transistor), được chế tạo trên tiến trình CMOS 28 nm. Theo kết quả đo kiểm, chip có tốc độ mã hóa, giải mã nhanh gấp khoảng 15 lần giải pháp thuần phần mềm trong cùng tác vụ. Đội ngũ kỹ sư cũng áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo vệ bản thiết kế trước khi chuyển tới nhà máy chế tạo, nhằm hạn chế nguy cơ lộ lọt hoặc dịch ngược.
Trên thế giới, nhiều nhà sản xuất tích hợp chip hoặc phần cứng bảo mật chuyên dụng vào thiết bị số để hỗ trợ xử lý mật mã và bảo vệ dữ liệu. VGC v1.0 được phát triển theo định hướng này, nhưng có ý nghĩa đặc biệt khi yêu cầu bảo mật, thuật toán và thiết kế vi mạch đều có sự tham gia làm chủ của đội ngũ trong nước. Trong quý I/2026, lô chip VGC v1.0 đầu tiên đã vượt qua các hạng mục đo kiểm kỹ thuật, được cấp giấy chứng nhận với phạm vi sử dụng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Ý nghĩa thực tiễn của việc làm chủ công nghệ bảo mật càng được thể hiện rõ trước những thách thức mới trong bảo vệ danh tính và tài sản trên môi trường số. Tại phiên thảo luận ở Quốc hội sáng 4/11 về dự án Luật An ninh dữ liệu và các quy định liên quan đến xác thực điện tử, đại biểu Phạm Trọng Nhân (Thành phố Hồ Chí Minh) cảnh báo tình trạng tội phạm sử dụng hình ảnh, video giả để vượt qua các bước xác thực sinh trắc học của ngân hàng.
Theo đại biểu, khuôn mặt, giọng nói một khi bị lộ rất khó thay đổi, trong khi mật khẩu có thể đổi, thẻ bị mất có thể khóa. Vì vậy, sinh trắc học vẫn cần thiết nhưng không thể là yếu tố bảo vệ duy nhất.
Từ thông tin Viettel và Ban Cơ yếu Chính phủ công bố chip bảo mật tích hợp thuật toán mật mã Việt Nam, đại biểu Phạm Trọng Nhân đánh giá đây là hướng đi đáng chú ý trong việc tăng cường độ tin cậy của các phương thức xác thực.
Nhận định của đại biểu Quốc hội cho thấy, việc phát triển công nghệ bảo mật trong nước không chỉ đáp ứng yêu cầu riêng của các cơ quan chuyên trách mà còn gắn trực tiếp với những vấn đề đặt ra trong xây dựng hạ tầng số quốc gia.
Khi các phương thức giả mạo ngày càng tinh vi, năng lực làm chủ phần cứng và mật mã trở thành một trong những cơ sở quan trọng để tăng cường khả năng bảo vệ dữ liệu, giao dịch và danh tính điện tử của người dân.
Tại lễ công bố ngày 3/11 vừa qua, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đánh giá cao tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của tập thể lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, kỹ sư, chuyên gia, nhà khoa học của Ban Cơ yếu Chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, trực tiếp là Nhà máy M2 và Trung tâm Bán dẫn Viettel đã chủ động phối hợp nghiên cứu, chế tạo thành công chip VGC v1.0 và nền tảng bán dẫn bảo mật, góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược về công nghệ bảo mật của Việt Nam.
Nhấn mạnh làm chủ nền tảng bán dẫn bảo mật không chỉ là nhiệm vụ khoa học công nghệ mà là nhiệm vụ chính trị, nội dung thiết thực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị Ban Cơ yếu Chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội cần quán triệt, thực hiện tốt 5 phương châm hành động về "Tự chủ, an toàn, lưỡng dụng, nhân lực, đồng lòng".
Theo đó, về tự chủ, phải kiên định mục tiêu làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi; về an toàn, sản phẩm bảo mật trước hết phải an toàn ngay từ khâu thiết kế. Về lưỡng dụng, nền tảng bán dẫn bảo mật phải trở thành nền tảng cho hệ sinh thái sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, vừa phục vụ cơ yếu, quốc phòng, an ninh, vừa phục vụ chuyển đổi số quốc gia, bảo vệ hạ tầng thông tin trọng yếu.
Về nhân lực, cần quán triệt, thực hiện tốt quan điểm "Người trước, súng sau" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ có con người hiện đại mới làm chủ được công nghệ hiện đại. Về đồng lòng, thị trường trong nước là bệ phóng đầu tiên để sản phẩm mật mã Việt Nam phát triển trước khi vươn ra khu vực và quốc tế; các ban, bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, doanh nghiệp cần tiếp tục đồng hành, quan tâm, ủng hộ, ưu tiên sử dụng sản phẩm bán dẫn bảo mật trong nước; nghiên cứu hoàn thiện cơ chế đặt hàng, thử nghiệm và đưa sản phẩm mật mã vào ứng dụng.
Đây cũng chính là những yêu cầu đặt ra trong thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị: chuyển từ tư duy tiếp nhận, ứng dụng công nghệ sang chủ động nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ công nghệ; từ kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đến những sản phẩm có khả năng triển khai trong thực tiễn. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, yêu cầu đó càng có ý nghĩa khi năng lực khoa học, công nghệ phải trực tiếp góp phần bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia và giữ vững chủ quyền trên không gian mạng.
Xây dựng nền tảng công nghệ, phát triển hệ sinh thái bán dẫn tự chủ
Nếu VGC v1.0 là sản phẩm cụ thể đánh dấu bước đầu làm chủ công nghệ thì nền tảng bán dẫn bảo mật là yếu tố tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài. Nền tảng này được xây dựng dựa trên kiến trúc tập lệnh mở RISC-V, cho phép đội ngũ kỹ sư chủ động điều chỉnh thiết kế bộ xử lý, làm chủ thiết kế từ gốc và quy trình kiểm chứng. Nhờ đó, những sản phẩm tiếp theo có thể kế thừa thành quả nghiên cứu thay vì phải bắt đầu lại từ đầu.
Việc xây dựng nền tảng có ý nghĩa quan trọng, năng lực tự chủ chỉ có thể được củng cố khi hình thành được quy trình nghiên cứu, thiết kế, kiểm chứng và phát triển liên tục, tạo khả năng chủ động cải tiến, nâng cấp sản phẩm theo yêu cầu thực tiễn. Đây cũng là hướng đi để từng bước xây dựng năng lực công nghệ bán dẫn trong nước, thay vì phụ thuộc vào những giải pháp có sẵn.
Trung tướng Tào Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) cho rằng, nghiên cứu, thiết kế và phát triển chip bán dẫn bảo mật là lĩnh vực rất khó, đòi hỏi sự tích lũy lâu dài về tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, nếu có chiến lược đúng, biết tập trung nguồn lực và kiên trì theo đuổi mục tiêu, Việt Nam hoàn toàn có thể từng bước rút ngắn khoảng cách, tiến tới làm chủ những công nghệ chiến lược của quốc gia.
Về hướng ứng dụng, VGC v1.0 bước đầu được triển khai trong các thiết bị USB lưu trữ an toàn phục vụ cơ quan Đảng, Nhà nước và Quốc phòng. Tiếp theo, sản phẩm được định hướng đưa vào hệ thống chứng thực chữ ký số quốc gia, nơi có hơn 2 triệu chứng thư số đang lưu hành.
Không chỉ phục vụ quốc phòng, an ninh, chip bảo mật còn có tiềm năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, sản phẩm có thể góp phần bảo vệ hồ sơ, hợp đồng và dữ liệu khách hàng; đối với các thiết bị kết nối như camera giám sát, cảm biến môi trường, trạm quan trắc, chip có thể hỗ trợ bảo đảm an toàn trước nguy cơ xâm nhập trái phép. Các hệ thống thông tin thuộc hạ tầng trọng yếu quốc gia trong lĩnh vực điện, nước, dầu khí và viễn thông cũng là những lĩnh vực có thể ứng dụng công nghệ này.
Theo Trung tướng Vũ Ngọc Thiềm, Trưởng Ban Cơ yếu Chính phủ, VGC v1.0 mới là bước khởi đầu. Việc phát triển chip và thiết bị ứng dụng phải tiếp tục được hoàn thiện, kiểm thử, đánh giá và kiểm định theo các yêu cầu tương ứng với từng môi trường sử dụng. Đặc biệt, các sản phẩm phục vụ bảo vệ bí mật nhà nước phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định. Năng lực công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được kiểm chứng bằng độ an toàn, độ tin cậy và hiệu quả trong thực tiễn.
Để chuyển kết quả nghiên cứu thành năng lực sản xuất và ứng dụng, Ban Cơ yếu Chính phủ và Viettel đã ký thỏa thuận hợp tác với bốn trụ cột trọng tâm: triển khai phương án đưa VGC v1.0 vào sản xuất loạt, hướng tới trang bị cho các thiết bị bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ; phối hợp phát triển nền tảng vi mạch bảo mật đa lõi, tích hợp các thành phần mật mã chuyên dụng cho ứng dụng quy mô lớn; đào tạo nhân lực chuyên sâu về thiết kế vi mạch, mật mã và an toàn phần cứng; thử nghiệm sản phẩm trên thiết bị thực tế, kiểm định và đánh giá trước khi đưa vào sử dụng.
Cùng với đó, Viettel đang xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn công nghệ cao. Sự kết hợp giữa năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, phát triển sản phẩm và đào tạo nhân lực tạo tiền đề để Việt Nam từng bước làm chủ trọn vẹn hơn chuỗi giá trị bán dẫn, từ thiết kế, sản xuất đến đóng gói, góp phần bảo đảm an ninh nguồn cung.
Những kết quả bước đầu từ chip VGC v1.0 và nền tảng bán dẫn bảo mật không chỉ mang ý nghĩa đối với riêng ngành Cơ yếu hay Viettel mà còn gợi mở cách thức triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược: xác định đúng bài toán thực tiễn, tập trung nguồn lực, phát huy năng lực nghiên cứu trong nước, thúc đẩy liên kết giữa cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời gắn phát triển công nghệ với yêu cầu ứng dụng và kiểm chứng.