Doanh nghiệp giữ được thị trường nhờ áp dụng phòng vệ thương mại

Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại không chỉ giúp các ngành sản xuất trong nước phát triển bền vững, mà còn giúp doanh nghiệp xuất khẩu giữ vững vị thế trên thị trường quốc tế.

Bảo vệ sản xuất trong nước

Ông Vũ Tuấn Nghĩa, Phó Trưởng Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp, Cục Phòng vệ thương mại cho biết, đến hết tháng 9/2024, Việt Nam đã tiến hành 30 cuộc điều tra phòng vệ thương mại và đang duy trì áp dụng 22 biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu.

Quy mô doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp trong nước tham gia các vụ việc phòng vệ thương mại ước đạt 475.000 tỷ đồng. Số lao động trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp này khoảng trên 36.000 người. Theo đó, số thu ngân sách hàng năm từ thuế phòng vệ thương mại đạt từ 1.200-1.500 tỷ đồng.

Ông Đinh Quốc Thái, Tổng thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, sau khi áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, tình hình sản xuất của các doanh nghiệp có sự cải thiện đáng kể, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, cũng như hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Từ đó, sức cạnh tranh của ngành thép cũng được nâng lên.

Chú thích ảnh
Nông dân xã Quảng Phú (Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế) chăm sóc cây mía. Ảnh: Hồ Cầu/TTXVN

Ngành đường cũng là một ngành cho thấy tác động tích cực của việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Ông Trần Vĩnh Chung, Tổng Thư ký Hiệp hội Mía Đường Việt Nam cho biết, kể từ khi thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng với đường nhập khẩu từ Thái Lan, sản lượng đường sản xuất trong nước đã tăng từ xấp xỉ 700.000 tấn niên vụ 2020-2021 lên gần 1,2 triệu tấn niên vụ 2023 - đến tháng 9 năm 2024, tăng 161%. Doanh thu của các nhà máy đường đã tăng gấp đôi trong cùng giai đoạn. 

Tác động của biện pháp phòng vệ thương mại không chỉ giới hạn ở kết quả hoạt động kinh doanh của các nhà máy đường, mà còn thể hiện qua sự cải thiện trong thu nhập của người nông dân trồng mía. Giá mua mía trung bình đã tăng từ 850.000 đồng/tấn mía niên vụ 2020-2021 lên xấp xỉ 1,2 triệu đồng/tấn mía niên vụ 2023-2024, tăng 152%. Người nông dân đã yên tâm gắn bó hơn với cây mía, diện tích trồng mía tiếp tục được mở rộng...

Đối với các ngành hàng xuất khẩu, việc xử lý một cách thỏa đáng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đã giúp các doanh nghiệp tận dụng và giữ vững được những kết quả do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại. Đến nay, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 263 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 25 thị trường. Trong đó, đứng đầu là các vụ việc điều tra chống bán phá giá (144 vụ việc), tiếp đó là các vụ việc tự vệ (53 vụ việc), chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại (38 vụ việc) và chống trợ cấp (28 vụ việc).

Tuy số lượng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng, lên nhưng nhờ có sự chủ động của các doanh nghiệp cũng như sự hỗ trợ tích cực của Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan, nhiều vụ việc đã đạt được kết quả tương đối tích cực như doanh nghiệp không bị áp thuế phòng vệ thương mại hoặc bị áp thuế ở mức thấp, từ đó tiếp tục giữ được thị trường xuất khẩu.

Doanh nghiệp cần chủ động bảo vệ lợi ích của mình

Theo ông Cao Xuân Thanh, Chánh Văn phòng Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, trong những năm gần đây ngành gỗ đã phải xử lý một số vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài. Kinh nghiệm trong việc xử lý các vụ việc này cho thấy, sự chủ động của các doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng. Các doanh nghiệp cần đánh giá nguy cơ, rủi ro từ sớm để có chiến lược, kế hoạch kinh doanh phù hợp. Trong quá trình xử lý vụ việc, các doanh nghiệp cần hợp tác, cung cấp dữ liệu đầy đủ, chính xác, thống nhất cho cơ quan điều tra. 

Các doanh nghiệp cũng cần nỗ lực tối đa trong quá trình cung cấp thông tin, do khối lượng thông tin, dữ liệu cơ quan điều tra yêu cầu cung cấp lớn, trong khi có sự hạn chế về mặt thời gian. 

Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam cũng chia sẻ những kinh nghiệm trong việc xử lý các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài trong ngành thủy sản. Thủy sản là ngành va chạm với các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài từ sớm, với các vụ việc điều tra chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với cá tra, basa và tôm từ năm 2002.

Đến nay, mặc dù các mặt hàng này vẫn tiếp tục bị Hoa Kỳ áp dụng biện pháp chống bán phá giá, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có thuế suất 0% và duy trì được lượng xuất khẩu ổn định sang thị trường Hoa Kỳ. Đạt được kết quả này là nhờ có sự kiên trì, chủ động của các doanh nghiệp, sự tích cực của Hiệp hội và sự hỗ trợ, phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước.

Ông Trịnh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, tinh thần, chủ trương của Nhà nước là luôn khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp phát huy tối đa sức mạnh nội tại. Chính phủ đã và đang triển khai hàng loạt chính sách hỗ trợ, từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm thiểu thủ tục hành chính, đến việc tăng cường tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong các vụ kiện phòng vệ thương mại.

Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) luôn đồng hành cùng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Cục cũng không ngừng cải thiện hệ thống pháp lý về phòng vệ thương mại, đảm bảo các quy định luôn phù hợp với chuẩn mực quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường.

Cục Phòng vệ thương mại cũng vừa hoàn thành việc triển khai sửa đổi, xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 10/2018/NĐ-CP, đang được Bộ Tư pháp thẩm định và sẽ sớm trình Chính phủ. DDây là cơ sở pháp lý tốt để triển khai bảo vệ ngành sản xuất trong nước minh bạch và rõ ràng. Bên cạnh đó, Cục cũng tăng cường cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Thời gian tới, Cục Phòng vệ thương mại cam kết tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc hoàn thiện các công cụ phòng vệ thương mại, nâng cao năng lực điều tra và xử lý vụ kiện; đồng thời, thúc đẩy hợp tác quốc tế để tăng cường sự bảo vệ cho các ngành sản xuất trong nước.

Thu Trang/Báo Tin tức

Dành cho bạn

Vùng Đông Nam Bộ - Bài cuối: Cần cơ chế điều phối có trách nhiệm

Vùng Đông Nam Bộ - Bài cuối: Cần cơ chế điều phối có trách nhiệm

Với vai trò vị trí là vùng động lực tăng trưởng lớn của cả nước, yêu cầu đặt ra đối với vùng Đông Nam Bộ nói chung, các địa phương trong vùng nói riêng là hết sức nặng nề. Liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là triển khai có hiệu quả Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, Quyết định 615/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 về điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ và các Nghị quyết chiến lược, trọng tâm khác.

Vùng Đông Nam Bộ - Bài 3: Nâng chất dòng vốn đến hệ sinh thái tăng trưởng

Vùng Đông Nam Bộ - Bài 3: Nâng chất dòng vốn đến hệ sinh thái tăng trưởng

Vùng Đông Nam Bộ đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác lợi thế riêng lẻ sang tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết, tích hợp và hiệu quả hơn. Trong quá trình đó, cộng đồng doanh nghiệp, cả trong và ngoài nước, không chỉ là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm và nguồn thu mà còn là nguồn lực quan trọng để đưa những lợi thế về hạ tầng, công nghiệp, logistics, tài chính và thị trường của toàn vùng thành năng lực cạnh tranh thực tế.

Vùng Đông Nam Bộ - Bài 2: Khơi thông nguồn lực để bứt phá

Vùng Đông Nam Bộ - Bài 2: Khơi thông nguồn lực để bứt phá

Để vùng Đông Nam Bộ tiếp tục giữ vững vai trò vùng tăng trưởng năng động nhất cả nước và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn vốn hay triển khai thêm các dự án lớn. Quan trọng hơn là phải khơi thông, kết nối và chuyển hóa hiệu quả những nguồn lực đang có thành năng lực tăng trưởng mới.

Vùng Đông Nam Bộ - Bài 1: Vùng động lực số một cả nước

Vùng Đông Nam Bộ - Bài 1: Vùng động lực số một cả nước

Từ "đầu tàu kinh tế" truyền thống, vùng Đông Nam Bộ đang chuyển mình sang mô hình phát triển dựa trên hạ tầng liên kết hiện đại, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, logistics, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tục, bài toán không chỉ là phát huy lợi thế của từng địa phương mà còn là tạo sức mạnh cộng hưởng của cả vùng thông qua cơ chế liên kết, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khi các nguồn lực được khơi thông và liên kết vùng được vận hành hiệu quả, Đông Nam Bộ sẽ tiếp tục khẳng định vị thế là cực tăng trưởng số một, dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.