TP Hồ Chí Minh hướng tới mạng lưới phòng thí nghiệm dùng chung

Các viện, trường tại TP Hồ Chí Minh có thể chia sẻ thiết bị và chuyên môn để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, việc kết nối cần đi cùng điều kiện tiếp cận rõ ràng, kinh phí vận hành và cơ chế phối hợp từ nghiên cứu đến thử nghiệm, nghiệm thu.

baotintuc_tl_thi-nghiem-dung-chung-231026.jpg
Kỹ sư thực hiện đo kiểm tại phòng thí nghiệm của tập đoàn bán dẫn Đức tại TP Hồ Chí Minh.

Nguồn lực sẵn có nhưng cần điều kiện tiếp cận rõ ràng

Để hoàn thiện một sản phẩm điện tử, doanh nghiệp có thể phải thực hiện nhiều công đoạn, từ thiết kế, lắp ráp bo mạch đến đo kiểm và thử nghiệm. Mỗi công đoạn cần thiết bị và chuyên môn riêng. Vì vậy, tìm được nơi cung cấp dịch vụ phù hợp, có người hỗ trợ kỹ thuật và trả kết quả đúng hạn là yêu cầu thiết thực đối với doanh nghiệp.

PGS.TS Trần Viết Thắng, Viện Công nghệ Vi mạch Bán dẫn, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho biết đơn vị có thể chia sẻ ba nhóm nguồn lực. Nhóm đo kiểm điện tử gồm máy hiện sóng, máy phân tích phổ, thiết bị kiểm tra tuổi thọ pin và đo thông số cảm biến. Nhóm lắp ráp bo mạch có thiết bị hàn, làm sạch bề mặt và phủ keo. Nhóm thiết kế vi mạch có công cụ thiết kế điện tử tự động và hệ thống hỗ trợ thử nghiệm nguyên mẫu phần cứng.

Các đơn vị có thể đăng ký sử dụng trong ngày làm việc từ thứ Hai đến thứ Sáu. Riêng công cụ thiết kế vi mạch hiện được sử dụng trực tiếp tại phòng thí nghiệm; Viện dự kiến mở hình thức sử dụng trực tuyến sau khi nâng cấp máy chủ.

thi-nghiem-dung-chung-7608.jpg
Hệ thống phòng thí nghiệm tại Viện Công nghệ Vi mạch Bán dẫn, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, gồm một máy chủ, hệ thống HAPS-100 và 60 máy tính. Ảnh: ĐH NTT

Theo PGS.TS Trần Viết Thắng, trước khi triển khai, các bên cần ký thỏa thuận hợp tác khoa học và công nghệ, thống nhất nhân sự phối hợp, thời gian sử dụng, trách nhiệm bảo đảm an toàn thiết bị và kinh phí hỗ trợ hoạt động chia sẻ. Đây là cơ sở xác định phần việc, trách nhiệm của bên cung cấp và bên sử dụng.

Tuy nhiên, để tìm đến đúng cơ sở, doanh nghiệp cần nhiều thông tin hơn một danh mục máy móc. Thiết bị còn hoạt động hay không, khi nào có thể sử dụng, ai hỗ trợ kỹ thuật và mức phí bao nhiêu đều ảnh hưởng đến quyết định hợp tác.

Bà Nguyễn Thị Thơ Mộng, Trưởng phòng Truyền thông và Hợp tác quốc tế, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP Hồ Chí Minh (SIHUB), thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, chỉ ra bốn nhóm điểm nghẽn: Hạ tầng phân tán, thiếu cơ sở dữ liệu số; doanh nghiệp khó tiếp cận; các công đoạn kỹ thuật chưa liên thông; cơ chế tài sản công và tài chính còn vướng mắc.

Theo bà Mộng, thiết bị tại các viện, trường thường được đầu tư để thực hiện nhiệm vụ nội bộ. Trong khi đó, thông tin về khả năng phục vụ bên ngoài, lịch thiết bị còn trống và đơn giá chưa được chuẩn hóa. Doanh nghiệp khởi nghiệp còn gặp khó về thủ tục, thiếu kỹ thuật viên hỗ trợ và lo ngại việc bảo mật ý tưởng.

Nhu cầu sử dụng phòng thí nghiệm cũng khác nhau theo giai đoạn phát triển sản phẩm. Giai đoạn 2024 - 2025, trong 179 dự án được hỗ trợ, có 67 dự án tiền ươm tạo, 91 dự án ươm tạo và 21 dự án tăng tốc. Như vậy, hơn 88% dự án thuộc giai đoạn tiền ươm tạo và ươm tạo.

“Phần lớn dự án còn ở giai đoạn đầu nên nhu cầu tập trung vào tạo mẫu nhanh, thử nghiệm chức năng và đo kiểm sơ bộ. Vì vậy, chúng ta cần lựa chọn hạ tầng phù hợp với từng nhóm dự án, không áp dụng một mô hình duy nhất cho tất cả”, bà Mộng cho biết.

Theo phân tích của bà Mộng, một nhóm đang kiểm chứng ý tưởng có thể cần thiết bị tạo mẫu và hướng dẫn kỹ thuật. Khi sản phẩm tiến gần thị trường, nhu cầu chuyển sang đánh giá độ ổn định, chất lượng hoặc sản xuất thử. Xác định đúng yêu cầu ngay từ đầu giúp doanh nghiệp lựa chọn dịch vụ phù hợp, đồng thời giúp phòng thí nghiệm bố trí thiết bị và nhân lực.

Với đơn vị quản lý hạ tầng, mở cửa phục vụ doanh nghiệp còn đặt ra bài toán duy trì hoạt động. Ông Trương Hữu Lý, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu triển khai Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh (SHTP Labs), cho biết các phòng thí nghiệm công lập phải làm rõ hình thức, thẩm quyền và thủ tục khai thác tài sản; cùng với đó là kinh phí bảo trì, hiệu chuẩn thiết bị và nhân lực vận hành.

SHTP Labs có hạ tầng trong các lĩnh vực bán dẫn, vật liệu nano, tự động hóa và công nghệ sinh học ứng dụng. Để mở rộng phục vụ doanh nghiệp, đơn vị cần bảo đảm thiết bị hoạt động, có vật tư và kỹ thuật viên hỗ trợ, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Theo ông Lý, cơ chế kết nối, vận hành, tài chính và khai thác dùng chung chưa đồng bộ đang hạn chế hiệu quả của hạ tầng đã đầu tư. Vì vậy, việc mở rộng hợp tác phải đi cùng cách tính chi phí phù hợp và nguồn lực duy trì thiết bị.

Tổ chức phối hợp đến kết quả cuối cùng

Khi một sản phẩm cần đi qua nhiều cơ sở, yêu cầu đặt ra là thống nhất công việc và trách nhiệm giữa các bên. Nếu mỗi phòng thí nghiệm chỉ thực hiện phần việc riêng, doanh nghiệp vẫn phải tự kết nối các kết quả để hoàn thiện sản phẩm.

thi-nghiem-dung-chung-9202.jpg
Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hành trên bo mạch điện tử tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: ĐH NTT

PGS.TS Phạm Tấn Thi, Trưởng phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), cho rằng một bài toán có thể được thực hiện tại nhiều phòng thí nghiệm nhưng vẫn cần người chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Phương pháp thực hiện, tiêu chí nghiệm thu và cách quản lý dữ liệu phải được thống nhất trong suốt quá trình hợp tác.

“Cần phân định rõ trách nhiệm giữa đầu mối điều phối và chủ nhiệm dự án. Đầu mối điều phối tiếp nhận nhu cầu, tổng hợp báo giá, bố trí lịch làm việc giữa các phòng thí nghiệm và theo dõi việc thực hiện cam kết. Chủ nhiệm dự án chịu trách nhiệm tích hợp kết quả và nghiệm thu kỹ thuật theo kế hoạch chung. Mỗi cơ sở chịu trách nhiệm về chất lượng, nhân lực và an toàn trong phần việc của mình”, ông Thi đề xuất.

Việc phân công này giúp doanh nghiệp có đầu mối theo dõi công việc, thay vì tự liên hệ và kết nối từng kết quả riêng lẻ. Nếu một công đoạn chưa đáp ứng yêu cầu, các bên cũng có cơ sở xác định trách nhiệm và phối hợp xử lý.

thi-nghiem-dung-chung-3223.jpg
Phòng Thí nghiệm AIOT & ROBOTIC của SHTP Labs. Nguồn: SHTP Labs

Ông Thi minh họa bằng đề xuất phát triển mô-đun cảm biến phục vụ bảo trì dự báo trong nhà máy. Các đơn vị sẽ phối hợp thiết kế mạch, tạo mẫu bo mạch, tích hợp phần mềm, đo tính năng và thử nghiệm tại nhà máy. Kết quả thử nghiệm là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá khả năng tiếp nhận, gắn quá trình nghiên cứu với yêu cầu sử dụng thực tế.

Để duy trì cách làm này, ông đề xuất dành kinh phí ổn định cho đội ngũ kỹ thuật, bảo trì thiết bị và bảo đảm an toàn. Nguồn lực triển khai nghiên cứu, thử nghiệm có thể kết hợp từ kinh phí nhiệm vụ nghiên cứu, nguồn thu dịch vụ và phần đối ứng của doanh nghiệp.

Cùng với chi phí, quyền đối với kết quả nghiên cứu cần được làm rõ ngay khi thống nhất hợp tác. Các bên phải phân biệt tài sản trí tuệ đã có với kết quả tạo ra trong quá trình thực hiện; xác định quyền sử dụng, quyền công bố và cách phân chia lợi ích. Điều kiện sử dụng thiết bị, dữ liệu và phần mềm cũng cần phù hợp với hình thức hợp tác.

Ông Trương Hữu Lý đề xuất Nhà nước, trường, viện và doanh nghiệp cùng xác định bài toán, cam kết nguồn lực đến giai đoạn thực nghiệm, đánh giá và sản xuất thử. Trong đó, doanh nghiệp đưa ra nhu cầu thực tế và nguồn lực đối ứng; cơ sở nghiên cứu cung cấp hạ tầng, chuyên gia để cùng phát triển công nghệ.

phong-labs-1.jpg
Sinh viên Việt Nam và Nhật Bản tham quan phòng sạch tại SHTP Labs, tìm hiểu về công nghệ chế tạo chất bán dẫn. Ảnh: SHTP Labs

Theo định hướng phòng thí nghiệm mở của SHTP Labs, quá trình này cần cơ chế minh bạch về sở hữu trí tuệ, chia sẻ rủi ro nghiên cứu, lợi ích thương mại và khai thác tài sản công. Tùy nhu cầu, các bên có thể lựa chọn đặt hàng nghiên cứu, chuyển giao quyền sử dụng kết quả hoặc hợp tác thương mại hóa.

Để kết nối những nguồn lực này, bà Nguyễn Thị Thơ Mộng đề xuất tổ chức mạng lưới thông qua một đầu mối điều phối. Doanh nghiệp gửi yêu cầu để được hướng dẫn lựa chọn cơ sở phù hợp và theo dõi quá trình thực hiện. Các thành viên cần công khai khả năng cung cấp dịch vụ, mức phí và thời gian tiếp nhận.

Theo mô hình đề xuất, thiết bị vẫn do từng đơn vị quản lý tại chỗ; đơn vị sở hữu chịu trách nhiệm vận hành và an toàn. SIHUB đang nghiên cứu cách tổ chức mạng lưới, chuẩn bị kế hoạch, khảo sát thực tiễn và xem xét công cụ số hỗ trợ tra cứu, đặt lịch.

Bà Mộng cho rằng khảo sát phải làm rõ cả năng lực của cơ sở nghiên cứu lẫn nhu cầu, khả năng chi trả của doanh nghiệp. Từ đó, các đơn vị xác định thiết bị có thể chia sẻ, dịch vụ còn thiếu và hạng mục cần nâng cấp, ưu tiên khai thác nguồn lực hiện có trước khi đề xuất đầu tư mới.

Theo PGS.TS Phạm Tấn Thi, hiệu quả mạng lưới cần được đánh giá qua khả năng đáp ứng yêu cầu của bên sử dụng, thời gian trả kết quả, chi phí vận hành, kết quả phối hợp và khả năng tiếp nhận công nghệ. Tiêu chí phải phù hợp với từng nhóm thiết bị, nhiệm vụ, tránh chạy theo số giờ sử dụng.

Với doanh nghiệp, kết quả đo kiểm hay mẫu thử cần giúp giải quyết vấn đề kỹ thuật và hoàn thiện sản phẩm. Chất lượng dịch vụ, thời gian thực hiện và chi phí rõ ràng là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục hợp tác với các đơn vị nghiên cứu.

Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Phát triển hệ sinh thái phương tiện không người lái

Phát triển hệ sinh thái phương tiện không người lái

Ngày 9/10, UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội thảo chuyên môn “Phát triển hệ sinh thái phương tiện không người lái tỉnh Tây Ninh” nhằm trao đổi các giải pháp khai thác, thúc đẩy ứng dụng phương tiện không người lái gắn với nhu cầu thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế tầm thấp của địa phương.