Chăn nuôi Việt Nam duy trì tăng trưởng trong 9 tháng đầu năm 2026 nhưng vẫn gặp khó trong kiểm soát dịch bệnh và nâng cao hiệu quả sản xuất. Tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ còn cao cùng hệ thống giết mổ, phân phối phân tán đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất và lựa chọn công nghệ phù hợp với từng mô hình.
Các vấn đề này được ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đề cập tại lễ khai mạc Triển lãm quốc tế chuyên ngành chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi và chế biến thịt tại Việt Nam (Vietstock 2026) ngày 21/10 tại TP Hồ Chí Minh. Chương trình do Informa Markets tổ chức dưới sự chủ trì của Cục Chăn nuôi và Thú y.
Theo số liệu ông Phạm Kim Đăng công bố, trong 9 tháng đầu năm 2026, ngành chăn nuôi tăng trưởng 4,98%. Tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt 6,83 triệu tấn, tăng 5%; xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ước đạt 564 triệu USD, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh kết quả đạt được, ngành vẫn chịu tác động của dịch bệnh và thiên tai. Chi phí vật tư đầu vào còn cao trong khi thị trường đặt ra yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi.
Để giải quyết các khó khăn trên, Cục Chăn nuôi và Thú y tập trung cải cách thủ tục hành chính gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. “Trên cơ sở Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu của Chính phủ về cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền và chỉ đạo của Bộ, Cục Chăn nuôi và Thú y đã rà soát Luật Chăn nuôi, Luật Thú y cùng các văn bản hướng dẫn”, ông Đăng cho biết.
Qua rà soát, Cục đã tham mưu các cấp có thẩm quyền bãi bỏ 11 thủ tục và phân cấp, phân quyền 22 thủ tục. Hiện lĩnh vực chăn nuôi và thú y còn 75 thủ tục, gồm 29 thủ tục cấp Trung ương và 46 thủ tục cấp địa phương. Tổng thời gian giải quyết thủ tục giảm khoảng 50%; chi phí tuân thủ giảm khoảng 56%, tiết kiệm trên 760 tỷ đồng. Những thay đổi này góp phần giảm gánh nặng thủ tục để doanh nghiệp và người chăn nuôi tập trung nguồn lực cho sản xuất.
Cùng với cải cách thủ tục, Cục đang triển khai số hóa thông tin phục vụ quản trị ngành. Tài khoản quản trị cơ sở dữ liệu đã được cấp cho 34/34 tỉnh, thành phố và 3.126/3.321 xã; trên 15.000 cơ sở chăn nuôi đã được cấp mã số. Việc triển khai dữ liệu ngành tạo nền tảng nâng cao năng lực quản lý và tính minh bạch trong chuỗi sản xuất.
Về ứng dụng công nghệ, lãnh đạo Cục nhấn mạnh yêu cầu lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất và mang lại hiệu quả thiết thực. Các hướng ứng dụng bao gồm cải thiện giống, dinh dưỡng và quản lý đàn; tự động hóa chuồng trại gắn với giám sát sức khỏe vật nuôi và phát hiện sớm dịch bệnh.
Đối với phát triển chăn nuôi xanh, các cơ sở cần sử dụng hiệu quả thức ăn, nước và năng lượng; khai thác hợp lý phụ phẩm gắn với xử lý, tái sử dụng chất thải. Các giải pháp giảm phát thải phải có căn cứ kỹ thuật và được xem xét trên cả hiệu quả đầu tư lẫn khả năng áp dụng thực tế.
An toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm cũng cần được kiểm soát xuyên suốt chuỗi sản xuất. Cơ sở chăn nuôi phải thực hiện an toàn sinh học, chủ động phòng bệnh và sử dụng thuốc thú y có trách nhiệm. Việc kiểm soát chất lượng đầu vào cần đi cùng cải thiện điều kiện giết mổ, chế biến và bảo quản sản phẩm.
Ông Ben Wong, Tổng Giám đốc Informa Markets Việt Nam nhận định, các thách thức về sức khỏe vật nuôi, chi phí sản xuất và tác động môi trường đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ trên toàn chuỗi giá trị. Một doanh nghiệp riêng lẻ khó có thể tự giải quyết đầy đủ những yêu cầu này. Vì vậy, các bên cần tăng cường chia sẻ kiến thức và tiếp cận giải pháp thiết thực để thích ứng với thay đổi của thị trường.
Từ yêu cầu thực tiễn, Cục Chăn nuôi và Thú y xác định cần củng cố liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người chăn nuôi trên cơ sở minh bạch tiêu chuẩn, chất lượng và trách nhiệm của từng bên. Việc đầu tư cho giết mổ, chế biến sâu và bảo quản cần gắn với nâng cao giá trị sản phẩm. Cục tiếp tục tiếp nhận kiến nghị từ hoạt động sản xuất, kinh doanh để phối hợp tháo gỡ khó khăn và đưa các giải pháp phù hợp vào thực tế.