Làm rõ quyền và nghĩa vụ về trưng mua, trưng dụng tài sản
Theo Tờ trình dự án Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản (sửa đổi), dự thảo Luật nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện hệ thống pháp luật, sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích của người dân, doanh nghiệp về tài sản; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Các nội dung của dự thảo Luật hướng đến huy động kịp thời nguồn lực về tài sản để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước trong trường hợp thật cần thiết theo luật định; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp; bảo đảm phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các quy định tại dự thảo kế thừa những quy định còn phù hợp, sửa đổi, bổ sung các quy định không còn phù hợp để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu thực tiễn có thể phát sinh.
Dự thảo Luật được bố cục gồm 4 chương, 32 điều, quy định về việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và nghĩa vụ của người có tài sản trưng mua, trưng dụng; quyền và nghĩa vụ của người khác có liên quan đến việc trưng mua, trưng dụng tài sản; việc huy động người vận hành, điều khiển tài sản trưng dụng. Riêng việc trưng dụng đất, khu vực biển đã giao để thực hiện hoạt động lấn biển theo quy định của pháp luật về đất đai.
Báo cáo thẩm tra dự án Luật nêu rõ, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng các cơ quan tham gia thẩm tra nhất trí sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản và nhận thấy nội dung của dự thảo Luật phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và cơ bản bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật. Trình tự, thủ tục, hồ sơ dự án Luật đã được Chính phủ chuẩn bị đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đủ điều kiện trình Quốc hội.
Bên cạnh đó, để bảo đảm minh bạch, rõ ràng trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể và để thực hiện đúng các nghị quyết, kết luận liên quan của Bộ Chính trị, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, quy định ngay trong Luật về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, giới hạn, thẩm quyền trưng mua, trưng dụng, quyền, nghĩa vụ của người có tài sản trưng mua, trưng dụng, việc bồi thường thiệt hại…; nghị định của Chính phủ chỉ quy định về trình tự, thủ tục, tổ chức thực hiện. Đồng thời, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát các quy định của dự thảo Luật với các quy định của Bộ luật Dân sự và các luật, dự thảo luật có liên quan để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Bảo đảm tính liên thông, kế thừa trong quá trình xây dựng pháp luật
Tờ trình về dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật cho thấy, dự án Luật được xây dựng nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, trọng tâm là Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, tiếp tục đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường hiệu quả và bảo đảm gắn kết chặt chẽ hơn giữa công tác xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật.
Dự án Luật được xây dựng trên cơ sở tiếp tục kế thừa quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, những nội dung quy định hiện hành còn phù hợp, bảo đảm kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, phát huy sự tham gia của chuyên gia và tăng cường ứng dụng công nghệ số.
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 68 điều với những nội dung chủ yếu về: Thực hiện tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; đổi mới quy trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở tiếp tục phân định rõ quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo, đồng thời bảo đảm tính liên thông, kế thừa kết quả giữa các giai đoạn; thực hiện đơn giản hóa và liên thông hồ sơ trong suốt quy trình xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản; hoàn thiện quy trình thẩm tra, xem xét, thông qua và công bố luật, pháp lệnh…
Theo Báo cáo thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật với phạm vi điều chỉnh được giữ nguyên và nhất trí với tên gọi “Luật Văn bản quy phạm pháp luật” để bảo đảm ngắn gọn, khái quát. Nội dung dự thảo Luật cơ bản phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bám sát tinh thần của các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị; cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật; bảo đảm tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan, yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Bên cạnh đó, Ủy ban đề nghị tiếp tục làm rõ hơn sự phù hợp của quy định giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để “điều chỉnh quy định của luật” với quy định tại Điều 70 của Hiến pháp.
Giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp
Trình bày Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, qua hơn 1 năm thực hiện, cơ chế ủy quyền lập pháp đặc biệt theo Nghị quyết số 206 đã phát huy hiệu quả tích cực, tạo cơ sở pháp lý linh hoạt để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn về thể chế; nâng cao năng lực phản ứng chính sách, thúc đẩy cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và giải phóng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ đã tổ chức rà soát, xác định khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, phân loại để xử lý theo thẩm quyền, theo trình tự sửa đổi văn bản thông thường của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206. Theo đó, có tổng số 786 phản ánh, kiến nghị có khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Đến nay, đã xử lý xong 556 phản ánh, kiến nghị (trong đó có 44 phản ánh, kiến nghị được xử lý theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết 206); đang tiếp tục xử lý 230 phản ánh, kiến nghị (còn 2 phản ánh, kiến nghị dự kiến xử lý theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206).
Trên cơ sở kết quả rà soát pháp luật, tổng kết, đánh giá thực tiễn triển khai thi hành pháp luật và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 26 nghị quyết để kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc gây kìm hãm, ách tắc, cản trở phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, 5 nghị quyết được ban hành theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh trong năm 2026 đã mang lại những kết quả tích cực, giúp tiết kiệm 53% về thời gian, 55% về chi phí tuân thủ, tương đương khoảng 23 nghìn tỷ đồng mỗi năm cho người dân và doanh nghiệp...
Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu nêu rõ, Ủy ban đề nghị bổ sung, làm rõ kết quả xử lý các phản ánh, kiến nghị gắn với từng phương án theo quy định tại Nghị quyết số 206. Đối với các phản ánh, kiến nghị đang được tiếp tục xử lý, Ủy ban đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung rà soát, xác định rõ phương án, lộ trình và trách nhiệm xử lý đối với từng phản ánh, kiến nghị; ưu tiên giải quyết dứt điểm các vướng mắc tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư, kinh doanh, vận hành bộ máy mới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Liên quan tới kết quả xây dựng, ban hành và tổ chức triển khai các nghị quyết của Chính phủ theo quy định tại Nghị quyết số 206, Cơ quan thẩm tra đánh giá, Chính phủ đã ban hành 26 nghị quyết để xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong nhiều lĩnh vực, đạt nhiều kết quả tích cực, như đã cắt giảm, đơn giản hóa hàng nghìn thủ tục hành chính, không còn yêu cầu nộp giấy tờ trong nhiều thủ tục, cắt giảm hằng trăm điều kiện kinh doanh, giảm nhiều thời gian giải quyết thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Những kết quả này đã góp phần quan trọng phát huy các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, việc ban hành văn bản để xử lý nhanh các khó khăn, vướng mắc thông qua việc áp dụng cơ chế đặc biệt tại Nghị quyết số 206 đặt ra nhiều thách thức trong việc bảo đảm tính khả thi, đánh giá đầy đủ tác động và điều kiện tổ chức thực hiện, dẫn đến có trường hợp văn bản sau khi ban hành phải tạm ngưng hiệu lực...