Sinh viên, học sinh trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến tìm hiểu thông tin tuyển sinh, đào tạo của các trường nghề. Ảnh: Thu Hoài/TTXVN |
Những nút thắt Ngoài những nguyên nhân về chính sách đào tạo khiến cung - cầu lao động chưa gặp nhau, theo các chuyên gia, công tác quản lý lao động, chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giới thiệu việc làm thời gian qua ở nước ta nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn còn bộc lộ những hạn chế. Cụ thể, hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành, phát triển thị trường lao động, là cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động, nhưng các trung tâm giới thiệu việc làm còn hạn chế về khả năng tư vấn, giới thiệu việc làm, thu thập thông tin về cung - cầu lao động, không kết nối dữ liệu. Từ thực tế nhiều năm qua, Tiến sĩ Lê Kim Dung, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho rằng, hệ thống thông tin thị trường lao động chưa hoàn thiện, chưa có sự kết nối về thông tin trên phạm vi vùng, cả nước. Từ đó kéo theo hoạt động phân tích và dự báo thị trường lao động còn yếu kém, gây ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội nói chung, chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao và giải quyết việc làm nói riêng. Không chỉ ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều địa phương khác như Bình Dương - tỉnh lớn trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang gặp phải những khó khăn trên. Đại diện Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Bình Dương cho biết, các Trung tâm dịch vụ việc làm chưa có hệ thống kết nối liên thông dữ liệu và kết nối cung - cầu lao động, kết nối việc tìm người, người tìm việc nên việc sử dụng thông tin về thị trường lao động chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, chưa có dữ liệu chung về bảo hiểm thất nghiệp trên toàn quốc để các Trung tâm dịch vụ việc làm có thể tra cứu, đối chiếu thông tin, tránh giải quyết hồ sơ trùng nhằm thực hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Theo đánh giá của Cục Việc làm (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay chỉ mới tập trung hỗ trợ người lao động sau khi thất nghiệp chứ chưa chủ động có giải pháp hỗ trợ người lao động nhằm duy trì việc làm, phòng tránh thất nghiệp. Tâm lý người lao động chỉ muốn hưởng chế độ cho mục đích cá nhân chứ chưa quan tâm đến các chế độ khác như tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề để tiếp tục quay lại thị trường lao động. Một số lao động chưa nhận thức rõ việc khai báo tình trạng việc làm, trong khi phần lớn người sử dụng lao động vẫn chưa thực hiện thông báo định kỳ về tình hình biến động lao động. Mặt khác, công tác quản lý lao động ở nước ta còn nhiều bất cập, chưa có đủ công cụ để quản lý lao động nên rất khó kiểm soát tình trạng việc làm của người lao động dẫn đến số liệu thống kê chưa kết nối. Bên cạnh đó, theo ông Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, lao động Việt Nam vẫn thờ ơ với việc tự nâng cao trình độ. Đây là sự thật đáng lo ngại khi Việt Nam đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Cụ thể, theo khảo sát các năm trở lại đây chỉ có 4,9% công nhân lao động hưởng chế độ từ quỹ Bảo hiểm thất nghiệp để đi học nghề với mong muốn quay trở lại thị trường lao động, trong khi đó hơn 95% còn lại sử dụng số tiền đó vào việc khác. Do đó, cần có những tác động để thay đổi nhận thức của đại đa số công nhân lao động, bởi khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 lan rộng, hàng loạt lao động sẽ đối mặt với thất nghiệp do trình độ tay nghề yếu kém, lạc hậu không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.