Từ cuối tháng 7 đến nay, có hai lần Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) lấy ý kiến hoặc đưa ra dự kiến sửa đổi về tuyển sinh. Đầu tiên là công văn số 4991 ngày 31/7, trong đó Bộ GD&ĐT đề nghị Sở GD&ĐT Hà Nội, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh nghiên cứu, góp ý dự thảo Thông tư quy định về tuyển sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông. Theo đó, tại Điều 15 của dự thảo, số môn thi tuyển sinh lớp 10 công lập dự kiến gồm hai môn Toán và Ngữ văn, tức là bỏ môn thi thứ ba theo quy định cũ. Ngay khi có thông tin này, dư luận bùng lên những cuộc tranh luận gay gắt, đặc biệt là khi kỳ thi vào lớp 10 trường công lập ở một số thành phố lớn vô cùng “căng não”.
Tới ngày 17/9, Bộ GD&ĐT công bố dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển sinh và đào tạo cao đẳng ngành giáo dục mầm non, đại học và sau đại học. Theo đó, các trường đại học chỉ được dùng một phương thức tuyển sinh ở mỗi ngành và chương trình đào tạo. Thế nhưng, chỉ hơn 4 tiếng sau lại có thay đổi. Cụ thể, Bộ GD&ĐT vẫn giới hạn một phương thức xét tuyển đại học/ngành nhưng chưa áp dụng ngay từ năm 2027, mà tới năm 2028 mới áp dụng. Ngoài ra, dự thảo còn một điểm mà nhiều phụ huynh và thí sinh quan tâm. Đó là thí sinh không còn được cộng tối đa 3 điểm với chứng chỉ IELTS hay giải học sinh giỏi khi xét tuyển đại học từ năm 2027.
Bản thân tôi là người có một con sắp đối mặt với kỳ thi vào lớp 10 ở địa bàn khốc liệt nhất cả nước, còn một con sắp đứng trước ngưỡng cửa đại học quan trọng mang quyết định đường hướng nghề nghiệp tương lai. Sau khi đã chứng kiến quá nhiều lần thay đổi quy chế tuyển sinh trong nhiều năm qua, tôi đã không còn bất ngờ hay có cảm xúc tiêu cực mỗi khi chuẩn bị có hoặc có một thay đổi mới. Với tôi, thay đổi hàng năm về quy chế tuyển sinh, dù là thay đổi đối với kỳ thi vào lớp 10 hay với cách xét tuyển đại học, cũng là một phần đương nhiên buộc phải chấp nhận trong “cuộc chơi” thi cử căng thẳng vốn tốn nhiều thời gian, công sức, tiền bạc.
Thế nhưng, trên truyền thông cũng như hàng loạt hội nhóm mạng xã hội liên quan học thêm, tuyển sinh hay thi cử, không ít phụ huynh và học sinh bày tỏ cảm xúc chới với, hoang mang, sốc, tiếc nuối trước dự thảo của Bộ GD&ĐT. Tâm lý này là dễ hiểu, nhất là với những học sinh đã chuẩn bị cho mình từ sớm những con đường vào đại học phù hợp nhất với năng lực học tập bản thân cũng như khả năng tài chính của gia đình. Không chới với sao được khi rất có thể, những công sức và khoản đầu tư vài chục triệu, thậm chí cả trăm triệu đồng để học chứng chỉ ngoại ngữ đó có thể sẽ không còn giá trị sử dụng trong xét tuyển đại học nếu dự thảo của Bộ GD&ĐT biến thành quy chế mới.
Xét thực tế mà nói, những lý do được Bộ GD&ĐT đưa ra để lý giải cho những thay đổi dự kiến là hợp lý, vì mục tiêu là đảm bảo công bằng giữa các vùng miền (thông qua bỏ điểm cộng IELTS), là giải quyết tình trạng chồng chéo nhiều “cửa” xét tuyển đại học (thông qua giảm phương thức xét tuyển). Nếu không làm việc trong ngành giáo dục hoặc không có con ở độ tuổi thi cử, chắc hẳn không phải ai cũng biết những HSA, TSA, SPT, V-SAT hay V-ACT là kỳ thi gì, hay chứng chỉ SAT và IELTS được dùng thế nào khi xét tuyển đại học. Khi buộc phải bước vào “ma trận” những kỳ thi, chứng chỉ, quy định, quy chế, phương thức đó, người mệt mỏi nhất vẫn là học sinh.
Nhìn chung, nhiều chuyên gia giáo dục đồng tình với quan điểm của Bộ GD&ĐT rằng cần thay đổi một số điều, cần bỏ một số ưu tiên, cần giảm một số phương thức. Sự đồng tình đó tất nhiên đi kèm với một chữ “nhưng”: nhưng thay đổi phải có lộ trình. Những gì đằng sau chữ “nhưng” đó là để đảm bảo mục tiêu công bằng không vô tình tạo thêm bất công cho những người đã chuẩn bị theo quy chế xét tuyển hiện hành.
Lộ trình ở đây chính là điều mấu chốt, vì điểm gây nhiều băn khoăn nhất hiện nay không hẳn nằm ở mục tiêu của chính sách, mà ở thời điểm thay đổi. Khi chỉ còn khoảng 9 tháng nữa là tới mùa thi và khi nhiều học sinh đã có trong tay chứng chỉ hoặc chuẩn bị thi IELTS, thì thay đổi quy chế tuyển sinh dự kiến của Bộ GD&ĐT có thể bị coi là “cú quay xe, bẻ lái gấp”.
Bản thân những người làm chính sách ở Bộ GD&ĐT cũng nhận thấy điều này khi trong vòng hơn 4 tiếng đồng hồ, họ đã phải điều chỉnh lộ trình siết phương thức xét tuyển. Với những người làm chính sách, chỉ cần vài giờ để quyết định thay đổi và chỉ cần vài giây để sửa vài con số, từ 5 còn 3 hay 1, hoặc từ 2027 thành 2028, nhưng với những thí sinh tương lai, vài giây hay vài giờ đó tương đương vài năm ôn luyện.
Nhìn lại 20 năm tuyển sinh đại học trở lại đây, các chuyên gia đã thống kê có tới 6 lần thay đổi lớn và mỗi năm lại có thêm những thay đổi nhỏ. Năm năm trở lại đây, các phương thức xét tuyển bùng nổ, lên tới gần 20. Tất nhiên, xuất hiện bất cập thì phải cải cách, nảy sinh tiêu cực thì phải điều chỉnh, nhưng không có nghĩa cứ phát hiện một vấn đề là lập tức thay đổi cách thức tuyển sinh. Xét thực tế đó, có thể nói điều mà học sinh và phụ huynh cần nhất là ổn định chính sách.
Quay trở lại với Việt Nam, cần lưu ý rằng mỗi chính sách đều phải có thời gian để kiểm nghiệm, đánh giá. Muốn điều chỉnh phải dựa trên số liệu thống kê khách quan. Mỗi lần thay đổi cũng cần khoảng chuyển tiếp đủ dài để học sinh không bị đặt vào thế bị động.
Nhìn xa hơn, chúng ta có thể tham khảo mô hình tuyển sinh đại học của nhiều quốc gia: Trung Quốc lấy kỳ thi Cao khảo làm trục quan trọng của hệ thống tuyển sinh, Hàn Quốc có kỳ thi Suneung trên toàn quốc, Mỹ trao quyền lớn cho từng trường trong xây dựng tiêu chí tuyển sinh, còn Australia kết hợp thước đo chung với quyền tự chủ của các trường. Dù là chung hay riêng hay kết hợp thì các mô hình này đều duy trì mức độ ổn định sau những lần cải cách.
Xét cho cùng, câu chuyện tuyển sinh lần này cho thấy yêu cầu quan trọng đối với việc xây dựng chính sách giáo dục: đó là tăng tính ổn định cũng như khả năng dự báo và không để học sinh trở thành người chạy theo chính sách.
Lật lại Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị, ta có thể thấy được hướng đi cho câu chuyện xét tuyển đại học. Nghị quyết này đặt ra yêu cầu xây dựng đề án đổi mới tuyển sinh đại học theo hướng đánh giá đúng năng lực người học, bảo đảm kiểm soát thống nhất chuẩn đầu vào của các ngành đào tạo, cơ sở đào tạo và kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu ra. Các chuyên gia cho rằng, yêu cầu nói trên thực ra là yêu cầu thiết kế lại cả chuỗi tuyển sinh, đào tạo, đánh giá chất lượng đầu ra đại học; chứ không phải là yêu cầu mỗi năm thay đổi một chút, điều chỉnh một chút như hiện nay.