Đê biển Việt Nam trước tác động của biến đổi khí hậu-Bài1: Thực trạng đê biển Việt Nam

Theo thống kê, trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng 0,7 độ C, mực nước biển dâng 20 cm. Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH), thiên tai, bão lụt, hạn hán đã diễn ra khốc liệt hơn trước. Việt Nam được cho là 1 trong 5 nước chịu tác động nhất của BĐKH; trong đó có nhiều vùng ven biển sẽ bị ngập.

Bài1: Thực trạng đê biển Việt Nam

Các chuyên gia môi trường nhận định, BĐKH ảnh hưởng đến Việt Nam theo những xu hướng sau: Giảm mưa dông, giảm sương mù; hạn hán tăng cả về tần suất và cường độ; mùa lạnh thu hẹp; bão tăng về tần suất.

Đê biển Việt Nam trước tác động của biến đổi khí hậu-Bài1: Thực trạng đê biển Việt Nam ảnh 1

Cơn bão số 7 (27/9/2005) kết hợp triều cường tràn qua đê Bạch Long, Giao Thủy (Nam Định). Ảnh: TTXVN


Trong khoảng chục năm trở lại đây, Việt Nam liên tục hứng chịu nhiều cơn bão kết hợp triều cường lớn ảnh hưởng lớn đến hệ thống hạ tầng cơ sở ven biển và đời sống người dân ven biển. Những năm gần đây, xuất hiện những cơn bão có cường độ siêu mạnh trên biển và gia tăng sức tàn phá về kinh tế, xã hội và môi trường ven biển. Theo GS.TS Ngô Trí Viềng (Trưởng khoa Công trình, trường Đại học Thành Tây) nhận xét: Tác động BĐKH, với sự gia tăng của bão và triều cường đang tác động lớn tới những tuyến đê biển Việt Nam. Trong những năm qua, hệ thống đê biển đã được quan tâm đầu tư và củng cố, tuy nhiên những tuyến đê mới được nâng cấp chỉ chống được bão cấp 9 và mực nước triều tần suất 5%. Các tuyến đê hiện nay chưa đủ kiên cố để chống đỡ bão lũ cấp cao hơn.

Thống kê cho thấy, vào năm 2005 xuất hiện cơn bão số 2 và số 7 (đặc biệt là cơn bão số 7) rất mạnh trên cấp 12 vượt quá tần suất thiết kế các tuyến đê biển đã đổ bộ vào nước ta trùng với triều cường gây ra nước dâng cao 3,5 - 4 m, đồng thời sóng mạnh trên 6 m tại các vùng ven biển Bắc bộ từ Hải Phòng đến Hà Tĩnh đã làm nước tràn qua đê và vỡ đê nhiều nơi, gây thiệt hại lớn.

Đê biển Việt Nam trước tác động của biến đổi khí hậu-Bài1: Thực trạng đê biển Việt Nam ảnh 2

Gia cố đê biển tại Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) trong cơn bão năm 2009.


Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng thiên tai, những cơn bão có cường độ mạnh sẽ càng trở nên phổ biến và gia tăng sức tàn phá. Bão mạnh thường kèm theo nước dâng theo bão. Trong trường hợp nước dâng khi có bão cộng với triều cường tạo ra những đợt sóng đánh trực tiếp vào đê biển, tràn qua đê gây xói lở và vỡ đê, gây ngập lụt trên diện rộng cho vùng ven biển. Nếu sử dụng phương pháp nâng chiều cao của các tuyến đê sẽ rất tốn kém. Do đó, từ năm 2005, nhóm nghiên cứu thủy lợi đề xuất đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra giải pháp công nghệ mới có tính khả thi cao để đảm bảo ổn định và độ bền của đê biển hiện có khi có sóng, triều cường tràn qua.

Theo kinh nghiệm nghiên cứu của GS, TS Ngô Trí Viềng, dọc chiều dài hơn 3.000 km bờ biển nước ta thì tuyến biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh là xung yếu nhất do thường xuyên chịu những đợt sóng lớn, xâm thực từ biển và hệ thống đê chịu áp lực lớn khi có bão, trong khi vùng ven biển từ Huế trở vào phía Nam sóng êm hơn.

Hai tuyến đê biển Nam Định và Hà Tĩnh được nhóm nghiên cứu của GS.TS Ngô Trí Viềng lựa chọn bởi đây là những địa điểm chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bão và triều cường, tác động lớn đến hệ thống đê. Khảo sát thực địa tại Nam Định cho thấy tuyến đê biển tại đây hình thành cách đây khoảng 250-300 năm bảo vệ các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Xuân Trường. Đê biển Nam Định chạy theo hai hướng: đê Giao Thủy chạy theo hướng Bắc - Đông Bắc và đê Hải Hậu theo hướng Đông - Đông Bắc nên trong thời kỳ mùa mưa và mùa khô đều chịu ảnh hưởng do gió mùa đông bắc hay gió mùa đông nam. Tuyến đê Giao Thủy dài hơn 32 km có 9 kè dài hơn 6,8 km với 9 điếm canh đê và 14 cống. Do tác động của bão và sóng biển, từ năm 1962 đến năm 2000, tại K15,5 - K20,5 đê phải di dời 3 lần.

Trong khi đó đê Hải Hậu dài hơn 33,3 km có 10 kè dài hơn 17,6 km có 6 điếm canh đê và 23 cống. Đê Hải Hậu được đắp bằng cát bọc đất thịt và do nền yếu nên từ năm 1986-2000 đê biển Hải Hậu đã bị tàn phá hơn 11,9 km.

Còn vùng biển Hà Tĩnh cũng chịu số lượng bão tương đương vùng biển Nam Định. Tuyến đê biển Hà Tĩnh hình thành cách đây khoảng 250 năm, dài hơn 271 km chạy theo hướng Bắc - Nam. Thân đê chủ yếu là đất sét pha (đê biển Hội Thống - Nghi Xuân) và đất pha cát tại tuyến đê Thạch Hà (huyện Lộc Hà) nên dễ bị sạt lở khi sóng to cường độ lớn với tần suất liên tục.

Do đó nội dung đề tài của nhóm nghiên cứu của GS,TS Ngô Trí Viềng xác định tần suất mực nước thiết kế đê biển hợp lý, để từ đó đánh giá tần suất vượt tần suất thiết kế; xác định các tổ hợp sóng - triều - nước dâng có thể xảy ra trong vùng biển Việt Nam. Đề tài cũng nghiên cứu cơ chế phá hoại đê biển trong bão và triều cường; ứng dụng giải pháp tăng khả năng chịu tải của đê và nền đê; khả năng giữ các tấm lát mái khi gia cố bằng “neo”; xây dựng thiết kế mẫu cho vùng dự án điển hình tại Nam Định - Hà Tĩnh; hướng dẫn thiết kế công nghệ xử lý đất cho đê tràn nước.

Xuân Cường

Bài cuối: Ứng dụng công nghệ mới nâng độ bền cho đê biển