Con đường về bản

Xã Dìn Chin (Mường Khương - Lào Cai) thuộc địa bàn quản lý của Đồn biên phòng Tả Gia Khâu, nằm phía Đông Bắc huyện Mường Khương cách trung tâm huyện lỵ 25 km. Dân tộc Hmông là dân tộc đa số ở đây, bên cạnh đó còn một số sắc tộc của người Nùng, Tày…
Dìn Chin là một trong những xã biên giới nghèo nhất tỉnh, đường xá đi lại khó khăn, trình độ dân trí chưa cao. Xã phải nhận hỗ trợ nhiều từ nhà nước hàng năm. Những lần xuống cơ sở, cán bộ và chiến sĩ Đồn Biên phòng Tả Gia Khâu thường trăn trở nhiều về đời sống khó khăn của nhân dân trong xã, nhất là việc đi lại. Có thực mới vực được đạo. Dân muốn đến thăm nhau hoặc giao lưu giữa thôn nọ thôn kia còn khó khăn thì kinh tế còn khó phát triển.
Con đường về bản ảnh 1

Bộ đội Biên phòng Tả Gia Khâu giúp nhân dân xã Dìn Chin làm đường giao thông nông thôn.

Từ khi nhận nhiệm vụ là lực lượng thường trực của Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh giúp xã Dìn Chin xây dựng nông thôn mới, cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng Tả Gia Khâu bên cạnh niềm tự hào là chất chứa nỗi lo, nhất là ban Chỉ huy đồn. Không lo sao được khi đây là nhiệm vụ không phải chỉ riêng của Đồn mà là nhiệm vụ của toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh. Giúp đồng bào điều gì? Phải bắt đầu như thế nào? Mà đã giúp là phải ra tấm ra món, phải thiết thực, hiệu quả. 
Chứ không phải trống giong cờ mở, tuyên truyền vận động chung chung rồi chẳng làm được gì. Bà con trên này họ trọng lời hứa, thích người thật việc thật chứ không ưa lý luận dài dòng. Niềm tin của họ đặt vào hiệu quả và chất lượng công việc chứ không ưa phô trương. “Chỉ có làm đường là thiết thực nhất để giải quyết khó khăn trong cuộc sống người vùng cao Dìn Chin” - Ban Chỉ huy đồn thống nhất như vậy trong một cuộc họp giao ban.Được xã tư vấn và qua khảo sát, ban Chỉ huy đồn thống nhất phương án giúp xã xây dựng con đường vào thôn Cùng Lũng. Phương án này nhanh chóng được Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh đồng ý. Cùng Lũng là một thôn người Mông với hơn ba chục nóc nhà nằm ngay phía bên kia sườn núi sau Ủy ban nhân dân xã. Tiếng là gần Ủy ban và định cư hàng mấy chục năm rồi nhưng Cùng Lũng vẫn như nằm trên ốc đảo, gần như biệt lập với bên ngoài. Con đường lên thôn dài hơn hai trăm mét mà xe máy không thể vào được. Đường đã nhỏ lại gồ ghề, trâu bò đi lâu ngày thành vệt chỗ cao chỗ thấp, khi trời nắng thì bụi mù mịt và đặc mùi phân bò, phân ngựa, khi trời mưa thì chỉ còn nước lội bằng ủng. Người có xe máy muốn vào thôn phải gửi xe ngoài phân hiệu trường Tiểu học ở đầu thôn rồi đi bộ vào. Muốn bán tạ ngô, con lợn; hay mua bao phân bón về làm nương, bao xi măng về sửa nhà thì nhà nào nhà nấy vợ chồng con cái hè nhau ra tận đầu thôn mà khênh mà vác. Thật diệu vợi và bất tiện!Khi biết Đồn và Xã có chương trình làm đường, bà con trong thôn phấn khởi lắm. Nhà nọ báo nhà kia “Sắp có đường rồi. Muốn có đường nhanh nhanh. Mình cũng tham gia làm đường cho mình chứ!”. Trưởng thôn đi giao ban, tuần nào cũng hỏi Chủ tịch xã: “Bao giờ làm?”; bà con đi chợ qua Đồn cũng hỏi bộ đội: “Hôm nào làm đường đấy bộ đội?”. - “Yên tâm! Chúng tôi có kế hoạch rồi, chỉ mấy hôm nữa là triển khai thôi”… Không khí rộn ràng. Ai cũng háo hức chờ đón ngày khởi công như chờ đón một sự kiện gì trọng đại lắm!Kinh phí của Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh đã cấp. Đồn và Xã đã hạ quyết tâm, cái bụng của người dân đã quá ưng thuận, nhiều gia đình đã sẵn sàng bớt đi một phần nương của mình để con đường thêm đẹp. Nhưng hóa ra làm một con đường dù nhỏ cũng không phải đơn giản. Sau một tuần cả xóm tham gia đánh đường là đến giai đoạn vận chuyển nguyên vật liệu và phương tiện làm đường. Việc đầu tiên là phải mang chiếc máy trộn bê tông nặng hơn một tấn vượt con dốc cao vào đầu thôn. Người dây thừng, người đòn bẩy, dân đẩy, bộ đội kéo…. Trưởng thôn Sùng Seo Sử mồ hôi nhễ nhại, đứng trên mô đất cao chỉ huy. Hai…ba….nào…! Một …hai…ba ….nào… Lúc thì Sử hô bằng tiếng phổ thông, lúc thì bằng tiếng Mông, làm mọi người đang mệt cũng phải bật cười. Hàng trăm khối cát sỏi, hơn chục tấn xi măng tập kết ở đầu đường đã lên vai bà con vào thôn. Thanh niên trai tráng vác xi măng, gùi sỏi, các cô gái địu cát trên lù cở, những người phụ nữ địu con nhỏ trên lưng không thể mang vác được thì xúc sỏi, xúc cát. Từng địu, từng địu; từng chuyến, từng chuyến như đàn kiến tha mồi. Đúng là “Khó trăm lần dân liệu cũng xong”, khi người dân đã đồng thuận thì lòng nhiệt tình của họ thật không thể có gì so sánh được!Nhưng khi tất cả đã sẵn sàng, thì mọi người mới ồ lên: Trong bốn thành phần cấu tạo của bê tông gồm: Cát, sỏi, xi măng, nước thì lại thiếu đi cái thứ tư, tưởng nhỏ nhất lại thành ra cái lớn nhất. Làm thế nào bây giờ? Chẳng lẽ lại bó tay chờ mưa, mà mưa xuống có nước nhưng đường ướt, làm thế nào đổ bê tông được? Ở đây thiếu nước nghiêm trọng, chả thế người ta thường ví ở đây là “Trường Sa cạn”. Đến nước ăn bà con phải đi gùi từ thôn bên về từng can thì lấy đâu ra nước để làm đường? Mọi người còn đang căng óc ra nghĩ cách thì Chủ tịch xã Giàng Chẩn Diu chợt reo lên: “Có cách rồi: Tôi nhớ bên thôn Sín Chải có nguồn nước nhỏ chỗ đỉnh dốc cuối thôn. Để tôi sang nói với họ nhường cho chúng ta lấy nước ở bên đấy vài hôm, mua mấy trăm mét ống nhựa vượt qua quả đồi kia rồi dùng máy bơm hút về đầu thôn rồi lại dùng can gùi xuống vậy. Bà con thấy được không?” - “Được đấy! Đúng đấy!”. Tất cả reo lên. Lúc đấy mọi người mới thấy ông chủ tịch xã am hiểu tình hình ở thôn đó còn biết cách xử trí nhanh tình huống, khi gặp cái khó đã “ló” ngay cái khôn trong đầu! Trời nắng. Cái nắng vùng cao sỏi đá thật gay gắt. Vậy mà cả một quãng đường sôi động. Tiếng máy nổ sình sịch, sình sịch, xen tiếng trộn bê tông ràn rạt…ràn rạt… Mọi người ai vào việc ấy như một dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp. Tất cả đều tự giác hăng say làm việc, không cần ai đứng chỉ đạo. Phó Bí thư Đảng ủy xã đứng máy trộn, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch tham gia đẩy xe, Phó Chỉ huy Đồn vừa lo kỹ thuật vừa chỉ huy đổ bê tông, Chính trị viên cùng bà con bốc vật liệu. Thiếu úy Nguyễn Văn Đạt vừa tốt nghiệp trung cấp Biên phòng mà đã học được ngón nghề đứng máy trộn bê tông từ bao giờ. Tay côn, tay số nhịp nhàng như công nhân đứng máy dệt, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt mới có năm tuổi quân, hai mươi ba tuổi đời. “Nào! Có em nào thích ngồi xe rùa thì trèo lên đây các anh cho đi thử nào!”. Mấy cậu lính trẻ vừa kéo xe vừa trêu đùa mấy cô gái bản làm các em vừa đỏ mặt vừa thì thầm với nhau câu gì đó bằng tiếng dân tộc rồi đẩy nhau cười khúc khích. “Tôi là tôi biết tiếng Mông đấy nhé!” Chính trị viên phó từ nãy đến giờ như đang mải tìm chỗ đặt biển tên cho con đường bất chợt chen vào làm làm các cô gái không ai bảo ai cùng cười phá lên vui vẻ.Một mét, hai mét, năm mét… mười mét… một trăm, hai trăm mét! Con đường cứ từ từ hiện ra như người ta chơi trò trình chiếu. Từ gốc cây nghiến đầu thôn, vòng qua mỏm đá trước cửa rừng cấm huyền thoại, vượt qua những nương ngô, nương đậu tương, ruộng lúa… Màu xanh ngút mắt của hoa màu như nét tô điểm cho con đường thêm mềm mại, thơ mộng hơn trước khi nhập vào đường đi ra xã, xuống huyện, về tỉnh ….. Sau những ngày vất vả mà thật vui vì quân với dân một ý chí hòa cùng nhau thi công dưới cái nắng hè gay gắt, con đường về thôn Cùng Lũng đã hoàn thành. Trong ánh mắt mỗi người dân nơi đây đều ánh lên niềm vui khó tả. Đây là con đường của bộ đội biên phòng, của chính quyền địa phương và nhân dân cùng góp sức. Con đường đến với dân, mang đến ấm no hạnh phúc, mang đi những khó khăn, lạc hậu mà người dân nơi đây đã phải gánh chịu bao đời.Những ngày hè Dìn Chin nắng lửa này có con đường xuống bản được bê tông hóa vững chắc cho những chiếc xe máy với những bao tải hàng hóa nông sản đi lại dễ dàng, thuận tiện khiến lòng dân như mở cờ, nở hoa trong bụng. Có con đường mới, mọi người dễ dàng qua lại với nhau, nói cười rổn rảng. Bộ đội vào thôn ai cũng níu kéo vào nhà uống chén nước và lại nói chuyện về ngày làm đường vất vả nhưng vui vẻ vừa qua.Phía bên kia sườn núi, mấy con đường đi Phìn Chư, Lồ Sử Thàng cũng đang rục rịch khởi động…
Nguyễn Trọng Mạch