“Cô Hai vô trùng”
Bà Ngô Thị Hai sinh năm 1916 ở Bến Tre, trong một gia đình nghèo. Học hết lớp 9 tại Bến Tre, "cô Hai" lên Sài Gòn tiếp tục sự nghiệp học của mình.
Hồi tưởng về quãng thời gian đó, bà Hai kể: “Vào thời của tôi chỉ có nam giới mới học điều dưỡng, bởi lúc đó chế độ phong kiến vẫn còn suy nghĩ phụ nữ không cần học nhiều, 15 -16 tuổi là lấy chồng. Ba tôi có suy nghĩ rất "Tây" nên cho con cái học đến cùng. Khi tôi học cấp 3, Hội Hồng Thập Tự Pháp thành lập trường nữ điều dưỡng chỉ dạy cho người Pháp, tôi rất thích học điều dưỡng nên bạo dạn đi vào trường cùng với ba xin đi học. Tôi thi đậu vào trường cùng với hai người nữ nữa. Năm 1940 tôi ra trường và vào làm việc trong Bệnh viện Lalung Bonnaire nay là Bệnh viện Chợ Rẫy”.
Các học trò đến mừng thọ bà Ngô Thị Hai 100 tuổi. |
Làm ở bệnh viện được 10 năm, điều dưỡng Ngô Thị Hai được cử sang Canada học chuyên ngành về điều dưỡng ngoại - nội khoa để về giảng dạy tại Trường y tế quốc gia Việt Nam - là trường điều dưỡng nữ đầu tiên ở Việt Nam. Bà Hai kể: "Trong quá trình theo học ở Canada tôi được học rất nhiều về khâu vô trùng. Vào thời đó, vấn đề vô trùng trong bệnh viện hầu như bị bỏ ngỏ, điều dưỡng Việt Nam không mang bao tay khi thực hiện các thao tác chăm sóc vết thương cho bệnh nhân. Qua bên đây học, tôi bị sửa sai rất nhiều về khâu vô trùng, vì vậy tôi nhớ rất kỹ. Cũng từ đó, tôi để ý khâu này nhiều nhất khi giảng dạy, nên các học trò thường gọi tôi là cô Hai vô trùng".
Chị Võ Thị Anh, học trò cũ của cô Hai chia sẻ: "Cô là người hướng dẫn tụi tôi khi bước chân vào Trường Cán sự điều dưỡng Sài Gòn. Cô luôn nghiêm túc trong hướng dẫn từ lý thuyết đến lâm sàng. Cô dạy chúng tôi rất nhiều về kỹ thuật vô trùng để chống lại sự lây lan và nhiễm bệnh chéo trong bệnh viện. Ngày xưa mỗi lần đến tiết của cô học sinh rất sợ vì cô rất khó và cũng nhiều học sinh rớt môn của cô. Nhưng chính cái khó đó đã giúp chúng tôi có một tay nghề tốt, mỗi khóa học ra trường, dù chúng tôi được phân công ở bất cứ nơi nào đều có thể làm được và đáp ứng tốt".
Nói về người thầy của mình, chị Nguyễn Ngọc Liên, khóa học 13, giảng viên chuyên ngành điều dưỡng Trường Trung cấp Quang Trung chia sẻ: "Cô như người mẹ tinh thần trong ngành, là tấm gương sáng cho chúng tôi đến bây giờ. Mỗi lần hướng dẫn học trò thực tập tại bệnh viện, hình ảnh của cô Hai lại xuất hiện trong tâm trí tôi, những gì cô dạy, đặc biệt là cách vô trùng đến bây giờ tôi vẫn dạy cho học trò của mình. Tôi thường lấy cô ra làm tấm gương để dạy cho học sinh và con cháu mình".
Làm bằng cả trái tim
Không chỉ dạy cho học trò của mình về kiến thức chuyên môn của người điều dưỡng, cô Hai còn dạy họ về đạo đức của người làm điều dưỡng. Người nữ điều dưỡng đầu tiên chia sẻ: “Bệnh nhân đánh mình là mình chạy, họ chửi mình thì mình phải chịu đựng. Khi tôi chăm sóc bệnh nhân, tôi bị bệnh nhân đánh và chửi, tôi chịu đựng và chấp nhận tha thứ cho bệnh nhân, tất cả vì bệnh nhân”.
Đối với cô Hai, học nghề điều dưỡng phải có đạo đức tốt. Bởi vậy, môn y đức phải là môn học trước hết sau khi vào trường, y đức không tốt thì không nên tiếp tục với nghề. "Hoàn cảnh đã tạo ra cho con người ta như thế, nhưng y đức không có thì không được. Tôi rất buồn và đau lòng khi thấy y đức xuống cấp", chia sẻ về vấn đề y đức bây giờ cô Hai ngậm ngùi nói.
Hầu hết các học trò của cô Hai đều có chung một cảm nhận, cô là người thầy thuốc làm bằng cả trái tim và là người có “tài” làm điều dưỡng. Cô đã truyền dạy cho các học trò từ cách ăn mặc, nghe điện thoại, làm vui lòng bệnh nhân, thấu hiểu nỗi đau của bệnh nhân như thế nào.
Chị Tôn Thị Năm, học trò cũ của cô Hai nói: "Tôi không chỉ học ở cô về chuyên môn, mà còn học ở cô tấm lòng của một người thầy thuốc hết lòng vì bệnh nhân. Đối với cô, không có vụ nạt nộ bệnh nhân, mà chỉ có sự giải thích, động viên, cắt nghĩa. Bệnh nhân đến đây để chăm sóc nên mình phải nhiệt tình. Lời dạy đó của cô Hai luôn luôn theo chúng tôi đến bây giờ".
Cả cuộc đời cô Hai gắn bó với nghề y, cô không lập gia đình, anh em ruột thịt đều không còn và đến nay cô sống một mình trong căn nhà nhỏ trên đường Ngô Gia Tự, quận 10. Ở đây cô được các học trò thường xuyên đến thăm hỏi, trò chuyện và giúp đỡ cô. Họ xem cô như một người mẹ đáng kính.