Ngô Quyền quê ở Đường Lâm, huyện Phúc Lộc, Châu Giao (nay là xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Ông là một danh tướng dựng nên vương nghiệp nhà Ngô. Ông đã hai lần đánh bại quân Nam Hán xâm lược (lần I năm 930-931; lần II năm 938 trên sông Bạch Đằng).
Tượng đài đức Vương Ngô Quyền tại Hải Phòng. Ảnh: dulichhaiphong.gov.vn |
Trong đó, chiến thắng Bạch Đằng có ý nghĩa lịch sử to lớn, là mốc son chói lọi chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên phát triển của quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ, thời kỳ trưởng thành của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng đó cũng để lại nhiều kinh nghiệm quý, nhất là nghệ thuật đánh bại quân xâm lược ngay từ cửa ngõ đất nước.
Năm Kỷ Hợi 939, Ngô Quyền xưng vương, mở nền độc lập tự chủ cho nước ta.
2. Đinh Bộ Lĩnh (Ất Dậu 925 - Kỷ Mão 979)
Đinh Bộ Lĩnh vốn tên là Hoàn, Bộ Lĩnh là tước quan của sứ quân Trần Lãm phong cho. Ông quê ở Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Ông là con quan Thứ sử Châu Hoan thời Dương Diên Nghệ là Đinh Công Trứ.
Năm Ất Sửu 965, Nam Tấn vương Ngô Xương Văn mất, con là Xương Xí nối nghiệp, quá suy yếu phải về đống giữ đất Bình Kiều (Hưng Yên). Ông thừa thế hưng binh đánh lớn, chỉ trong một năm dẹp yên được loạn 12 sứ quân. Ông được xưng tụng là Vạn Thắng vương.
Năm Mậu Thìn 968, ông lên ngôi vua, tôn hiệu là Đại Thắng Minh, đặt hiệu nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Ông chính là người có công lớn trong việc thống nhất đất nước.
5. Nguyễn Gia Thiều (Tân Dậu 1741-Mậu Ngọ 1788) Nguyễn Gia Thiều là nhà thơ đời Lê Hiển Tông, hiệu Tân Trai, tước Ôn Như Hầu. Ông sinh ngày 6 tháng 2 năm Tân Dậu 1741 tại Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh). Ông được chúa Trịnh nuôi ăn học từ nhỏ. Lớn lên thành một trang thanh niên tuấn kiệt, văn võ toàn tài, được chúa Trịnh trọng dụng. Năm 1759, ông được phong Hiệu uý, Quân trung mã tả đội. Năm 1763, ông được phong Chỉ huy Thiêm sự. Năm 1771, ông được làm Tổng binh xứ Hưng Hoá và được phong tước Ôn Như Hầu. Tuy vậy, Nguyễn Gia Thiều không chịu sống trong vòng cương toả, chán đường công danh trước cảnh loạn li, nên thường bỏ nhiệm sở, về Thăng Long uống rượu, làm thơ, luận đàm triết học. Các tác phẩm nổi tiếng của ông: “Ôn Như thi tập”, “Tây Hồ thi tập”, “Từ Trai thi tập”, “Cung oán ngâm khúc”.6. Nguyễn Huệ (Quí Dậu 1753-Nhâm Tí 1792) Ông là Anh hùng dân tộc, có tên là Quang Bình, Văn Huệ, nhân dân Bình Định đương thời gọi ông là Ông Bình, hay Đức ông Tám. Thân phụ ông họ Hồ sau đổi thành họ Nguyễn, người gốc Hưng Nguyên, Nghệ An.Năm Tân Mão 1771, anh em ông lập đồn trại ở Bình Định chiêu tập nghĩa quân chống lại triều đình phong kiến chúa Nguyễn do quyền thần Trương Phúc Loan tác quái. Anh em ông thường lấy của cải của người giàu chia cho người ngèo.Năm Cảnh Hưng thứ 37, 1776, ông cầm quân vào đánh Bình Thuận, tiêu diệt đạo quân của chúa Nguyễn đang tá túc ở khu vực này. Tiếp đó cùng Nguyễn Lữ vào bình định đất Gia định.
Tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ tại tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ảnh: Quốc Việt/TTXVN |
Bức tượng đại thi hào Nguyễn Du tại Hà Tĩnh. Ảnh: nhandan.com.vn |
9. Nguyễn Trung Trực (Đinh Dậu 1837-Mậu Thìn 1868) Quê ông ở phủ Tân An, tỉnh Gia Định (Nay thuộc Long An). Tên tục gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch. Sau khi đốt cháy tàu Pháp L’Espérance trên sông Nhật Tảo, ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực.Năm 1867, ông được triều đình Huế phong chức Hà Tiên thành thủ uý để trấn giữ đất Hà Tiên. Sau khi thành Hà Tiên thất thủ, ngày 23/6/1867, ông rút quân về Rạch Giá tiếp tục cuộc chiến đấu, lập căn cứ Hòn Chồng. Ngày 16/6/1868, ông cho quân đánh úp đồn Kiên Giang tiêu diệt địch và làm chủ tình hình được 5 ngày. Giặc Pháp phản công, ông rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ chống giặc Pháp lâu dài. Đến tháng 10-1868, để đảm bảo lực lượng nghĩa quân và nhân dân trên đảo, ông tự ra nộp mình cho giặc bắt. Ngày 27/10/1868, giặc Pháp đem ông ra hành hình ở chợ Rạch Giá, khi đó ông 31 tuổi.10. Trương Vĩnh Ký (Đinh Dậu 1837-Mậu Tuất 1898)Trương Vĩnh Ký là một học giả, tự là Sĩ Tải, trước tên là Chánh Kí, sau đổi là Vĩnh Kí. ông vốn theo đạo Thiên chúa, có tên thánh là Jean Baptise, hay Petrus Kí. Quê ông ở tỉnh Vĩnh Long. Ông là người thông thạo 15 ngoại ngữ phương Tây và 11 ngoại ngữ phương Đông. Người đương thời liệt ông vào hàng 18 nhà bác học trên thế giới.Năm 1863, ông cùng Tôn Thọ Tường làm thông dịch viên cho phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp điều đình chuộc 3 tỉnh miền Đông. Sau khi về nước, ông làm chủ bút tờ Gia Định báo-tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt (năm 1868).Năm 1898 ông mất, thọ 61 tuổi và để lại hơn 100 bộ sách giá trị.
11. Phạm Ngọc Thạch (Kỷ Dậu 1909-Mậu Thân 1968) Phạm Ngọc Thạch quê Quảng Nam. Sau cách mạng Tháng Tám, ông là Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính khu Sài Gòn-Gia Định, rồi ra Bắc, được cử làm Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của Việt Nam. Ông có nhiều cống hiến xuất sắc cho nền y tế nước nhà, đặc biệt là trong việc phòng chống bệnh sốt rét và bệnh Lao. Phạm Ngọc Thạch hy sinh ở chiến trường miền Đông Nam Bộ năm 1968.12. Bùi Xuân Phái (Tân Dậu 1921-Mậu Thìn 1988)
Họa sĩ Bùi Xuân Phái. Ảnh: thethaovanhoa.vn |