Cách người Thái thích ứng với biến đổi khí hậu - Bài 3

Bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp

Ngay từ năm 1961, lợi dụng địa thế lòng chảo tự nhiên, người Thái đã xây dựng các đập nói trên để hình thành những hồ nước nhằm kiểm soát nguồn nước chảy xuống hạ nguồn của dòng sông Phetchaburi. Đồng thời để bảo vệ các đập, cũng như phát huy được công năng của chúng, người Thái đã xác định phải bảo vệ rừng đầu nguồn.
Người Thái đã biết khai thác lợi thế tự nhiên, ứng dụng khoa học công nghệ để có thể chủ động quản lý nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt, giảm thiệt hại đến mức tối đa trước tác động của biến đổi khí hậu.
Những con đập ở phía Tây
Ông Jadsada Aungsopanith, Giám đốc Quản lý và vận hành đập Phet, thuộc Chi Cục quản lý thủy lợi Hoàng Gia số 14, đưa chúng tôi đến tham quan hệ thống đập Phet tại tỉnh Phetchaburi, một tỉnh nằm phía tây của Thái Lan. Nơi chúng tôi đứng là cửa đập cuối cùng của dự án thủy lợi Phetchaburi nhằm quản lý nguồn nước sông Phetchanburi, có chiều dài 227 km bắt nguồn từ ngọn núi Tanoursi, nơi phân định ranh giới giữa hai nước Thái và Myanmar chảy xuống vùng hạ du của Thái Lan.
Theo lời ông Jadsada, dự án thủy lợi này phục vụ chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt cho toàn bộ 7 quận của tỉnh Chanburi và một phần của tỉnh Prachuab Khirikhan. Được biết, nguồn nước chính cung cấp cho đập Phet chính là hồ KaengKrachan có đường phân nước 2.200 km2 với tổng sức chứa lên đến 710 triệu m3 nước; còn hai hồ Huay Phak, Huay Mae chỉ có sức chứa từ 27 - 43 triệu m3 nước.
Bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp ảnh 1

Đập Phet tại tỉnh Phetchaburi.

Ngay từ năm 1961, lợi dụng địa thế lòng chảo tự nhiên, người Thái đã xây dựng các đập nói trên để hình thành những hồ nước nhằm kiểm soát nguồn nước chảy xuống hạ nguồn của dòng sông Phetchaburi. Đồng thời để bảo vệ các đập, cũng như phát huy được công năng của chúng, người Thái đã xác định phải bảo vệ rừng đầu nguồn. Do vậy, bao quanh hồ KaengKrachan là công viên quốc gia KaengKrachan được thành lập vào năm 1981 với diện tích 2.914 km² và được xem là công viên quốc gia lớn nhất ở Thái Lan.
Lúc chúng tôi có mặt tại đập Phet, hệ thống cửa đập đang được mở để nước từ dòng Phetchanburi chảy về theo hai hướng. Một là theo hệ thống kênh chính và hướng còn lại theo 3 hệ thống kênh riêng biệt khác. Những hệ thống kênh này được tách biệt hoàn toàn nhằm phục vụ từng yêu cầu như: cung cấp nước sinh hoạt, đẩy mặn để duy trì hệ sinh thái, công nghiệp và đặc biệt là phục vụ cho vùng nông nghiệp rộng lớn khoảng gần 155.000 mẫu Anh, tương đương khoảng 62.000 ha. Ông Jadsada cho biết: “Từ 3 hồ chứa gồm KaengKrachan, Huay Phak, Huay Mae là nơi lưu trữ nước chính ở phía thượng du, khi nước chảy xuống vùng hạ du, nhiệm vụ của đập Phet là quản lý nguồn nước này bằng việc tiếp tục lưu trữ và phân phối lượng nước trong mùa mưa và mùa khô qua hệ thống các kênh chính và những kênh phụ. Theo đó, chúng tôi hiện có 4 kênh dẫn nước chính, 41 kênh biên, phụ với tổng chiều dài là 412 km và có 28 mương với tổng chiều dài là 246 km”.
Kể từ khi người Thái đưa những con đập và hệ thống kênh thủy lợi nói trên này vào hoạt động, việc tổ chức canh tác nông nghiệp được kiểm soát một cách chặt chẽ để đảm bảo đủ nước phục vụ cho sản xuất. Ông Chalearmkiat Kongwicheanwat, Giám đốc Chi cục Thủy lợi Hoàng Gia số 14, cho biết việc căn cứ vào sản lượng nước đang được tích trữ sẽ cho phép bao nhiêu diện tích được canh tác hoặc cấm hoàn toàn việc sản xuất nông nghiệp. “Chẳng hạn như vào mùa khô hạn, nếu trữ lượng nước trên 380 triệu m3, chúng tôi sẽ cho phép trồng lúa và hoa màu. Từ 300 - 380 triệu m3 nước thì việc trồng lúa và các loại cây hoa màu chịu hạn ở một số khu vực nhất định. Còn nếu như dưới 300 triệu m3 là sẽ cấm hoàn toàn việc canh tác nông nghiệp”, ông Chalearmkiat dẫn chứng.
Ở thế chủ động
Trong chuyến đi tìm hiểu về cách người Thái thích nghi với biến đổi khí hậu, chúng tôi còn được ghé thăm văn phòng cơ quan Phát triển thông tin địa lý và Công nghệ không gian (Gistda) tại thủ đô Bangkok. Tại trung tâm này, chúng tôi còn hiểu rõ hơn việc người Thái không chỉ khai thác lợi thế tự nhiên, hình thành những con đập để quản lý nguồn nước phục vụ đa mục tiêu mà còn thông qua hệ thống vệ tinh để quy hoạch vùng sản xuất các loại cây nông nghiệp, đo lường, tính toán việc chuyển đổi các loại cây trồng, đảm bảo sản xuất nông nghiệp an toàn, hiệu quả trước biến động của khí hậu.
Bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp ảnh 2

Hồ chứa nước ở con đập Phet tại tỉnh Phetchaburi.

Ông Ravit Sachasiri, đại diện Gistda, cho rằng việc Thái Lan sử dụng các vệ tinh như là một phần của các nguồn khác để quản lý nước. Bởi ngoài hệ thống sông, đập nước có trữ lượng lớn dễ dàng quản lý, ước tính nhưng đối với những hệ thống trữ lượng nhỏ thì rất cần hệ thống vệ tinh giám sát. Vì nhiều vùng sản xuất nông nghiệp nằm ngoài khu vực đập nước, hệ thống cấp nước lớn. Do vậy, hệ thống vệ tinh sẽ có thể dự báo trước tình hình và có giải pháp cung cấp nước cho vùng sản xuất nông nghiệp nói trên, có bước chuyển đổi cây trồng thích hợp hoặc ngưng sản xuất trước điều kiện hạn hán hay lũ lụt.
Có thể dẫn chứng từ tháng 2 - 4 vừa qua, theo báo cáo của Trung tâm Mưa nhân tạo Hoàng Gia có tới 27 tỉnh, 127 quận, 562 vùng ngoại ô và hơn 4.300 ngôi làng trên toàn lãnh thổ Thái Lan bị tác động bởi hạn hán. Theo đó, căn cứ trên cơ sở thông tin của Gistda, trung tâm này đã tiến hành 532 chuyến bay tạo mưa với tổng lượng mưa cung cấp cho các ao, hồ lên gần 52 triệu m3 nước nhằm để giải quyết vấn đề thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.
Bên cạnh đó, theo ông Ravit, Gistda còn xây dựng được bản đồ cây trồng để dự báo sản lượng và cả việc quy hoạch đất đai để chọn loại cây trồng phù hợp trước sự thay đổi của điều kiện thời tiết. Thậm chí, đến nay cơ quan này còn cung cấp thông tin cho ngành nông nghiệp Thái Lan về chi phí vận chuyển từ vùng sản xuất đến nhà máy. Từ những thông tin đó, ngành nông nghiệp Thái Lan sẽ quy hoạch vùng sản xuất những loại cây trồng phù hợp với tình hình biến đổi khí hậu và còn đáp ứng được năng lực cạnh tranh với các sản phẩm nông nghiệp khác trên thị trường.
Trong chuyến đi này, chúng tôi đã thấy được “sức đề kháng” của ngành nông nghiệp Thái Lan như thế nào trước bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp. Chúng tôi cũng thấy được rằng, chi phí đầu tư cho hệ thống thủy lợi, công nghệ đòi hỏi một số vốn rất lớn và người Thái đã có sự đầu tư từ thế kỷ trước. Tuy nhiên, có một điều khiến chúng tôi phải trăn trở vì ông Ravit thẳng thắn chia sẻ rằng: “Chi phí đầu tư các vệ tinh là để giảm thiểu cho bất kỳ sự mất mát có thể xảy ra. Vì nếu chúng ta có thể đo lường bao nhiêu nước, có kế hoạch cho các cây trồng phù hợp, sẽ không có thiệt hại sản lượng nông nghiệp”.
Bài cuối: Hài hòa với thiên nhiên để phát triển bền vững
Bài và ảnh: Anh Đức