Việt Nam có tiềm năng lớn để củng cố vị thế cường quốc thuỷ sản

Năm 1982, một nhà nghiên cứu trẻ của Đại học Ghent lần đầu đặt chân đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, khảo sát tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản của một đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh. Hơn 40 năm sau, Giáo sư Patrick Sorgeloos không chỉ là nhân chứng của hành trình Việt Nam vươn lên thành cường quốc thuỷ sản, mà còn góp phần tạo ra điều đó. Vì vậy, những khuyến cáo thẳng thắn của ông cho Việt Nam hôm nay mang trọng lượng của 40 năm thực địa.

Giáo sư Patrick Sorgeloos đã có hơn 40 năm gắn bó, đồng hành cùng ngành thủy sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN phát
Giáo sư Patrick Sorgeloos đã có hơn 40 năm gắn bó, đồng hành cùng ngành thủy sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN phát

Trong cuộc trò chuyện với phóng viên TTXVN tại Brussels, Giáo sư Sorgeloos tự hào kể rằng trong hơn 4 thập kỷ hợp tác với các đối tác Việt Nam, từ Đại học Cần Thơ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2 và 3 đến hàng loạt doanh nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long, ông đã trực tiếp đào tạo và làm việc với hàng trăm chuyên gia, nghiên cứu sinh và kỹ sư người Việt. Nhiều người trong số đó nay đang giữ vai trò lãnh đạo trong ngành.

Ông chia sẻ "kết quả xây dựng năng lực thành công là sự 'làm chủ'", và giải thích từ đầu thập niên 1990, hàng trăm sinh viên Việt Nam đã theo học thạc sĩ và tiến sĩ về nuôi trồng thuỷ sản tại Bỉ, Hà Lan, Na Uy, Anh và Nhật Bản. Khi trở về, họ không chỉ mang theo bằng cấp, họ mang về quyền làm chủ công nghệ, rồi từ đó đào tạo hàng nghìn người tiếp theo, xây dựng hệ thống khuyến ngư và thành lập hàng loạt doanh nghiệp. "Một hệ sinh thái ngành hoàn chỉnh đã hình thành từ nền tảng đó. Và đó là điều không thể đơn giản sao chép từ bên ngoài vào", ông nhấn mạnh.

Dự án mà Giáo sư Sorgeloos nhắc đến nhiều nhất như một hình mẫu thành công là chương trình nuôi Artemia tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng, loài tôm nước mặn nhỏ bé được nghiên cứu và thích nghi thành công với điều kiện địa phương, trở thành nguồn thức ăn sống thiết yếu cho toàn ngành. Bốn thập kỷ sau khi khởi động, mô hình sản xuất Artemia tại Việt Nam được Ngân hàng Thế giới sử dụng như tham chiếu cho các chương trình phát triển thủy sản ở nhiều khu vực khác trên toàn cầu. Đó là thứ mà ông gọi là "làm chủ thực sự", không phải nhận công nghệ rồi vận hành, mà hiểu công nghệ đến mức có thể cải tiến và dạy lại cho người khác.

Chính từ nền tảng hiểu biết sâu sắc đó, Giáo sư Sorgeloos đánh giá Việt Nam có tiềm năng rất lớn để tiếp tục phát triển và củng cố vị thế cường quốc thuỷ sản. Từ chỉ 415.000 tấn vào giữa thập niên 1990, sản lượng nuôi trồng thủy sản Việt Nam nay đã vượt 5,75 triệu tấn, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng thuỷ sản quốc gia, một trong những tốc độ tăng trưởng ngoạn mục nhất lịch sử ngành thuỷ sản thế giới. Nhưng đây cũng là lúc ông đặt câu hỏi khó nhất : liệu mô hình tăng trưởng hiện tại có còn phù hợp để đưa Việt Nam lên tầm cao tiếp theo?

Giáo sư Sorgeloos xác định 3 việc Việt Nam cần làm ngay nếu muốn thực sự trở thành cường quốc thuỷ sản bền vững, không chỉ về sản lượng mà về giá trị và vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Thứ nhất, phải giải quyết dứt điểm bài toán dịch bệnh bằng cách thay đổi triết lý nuôi trồng. Đây là vấn đề ông xem là cấp bách nhất.

Theo ông, nút thắt cốt lõi của ngành thủy sản Việt Nam hôm nay không phải là thiếu công nghệ hay thiếu thị trường mà là dịch bệnh, hệ quả trực tiếp của việc đẩy thâm canh đơn loài đến giới hạn.

Giải pháp ông đề xuất là chuyển sang nuôi kết hợp đa loài và kinh tế tuần hoàn, trong đó chất thải của loài này trở thành dinh dưỡng cho loài khác, mô phỏng hệ sinh thái tự nhiên thay vì cưỡng bức thiên nhiên. Ông ghi nhận một số viện nghiên cứu và doanh nghiệp tư nhân vùng đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu đi theo hướng này ở quy mô bán thương mại và kêu gọi nhân rộng mạnh mẽ hơn.

Thứ hai, phải chọn đúng công nghệ cho đúng bối cảnh, không sao chép mù quáng. Giáo sư Sorgeloos đặc biệt cảnh báo về xu hướng một số chuyên gia và doanh nghiệp Việt Nam đang bị hấp dẫn bởi hệ thống nuôi tuần hoàn RAS (Recirculating Aquaculture System) đang thịnh hành ở châu Âu và Bắc Mỹ. Theo ông, RAS được thiết kế cho điều kiện châu Âu, đất đắt, lao động đắt, không gian hạn chế và khí hậu lạnh. Áp nguyên mô hình đó vào Việt Nam, nơi hàng triệu hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn là thực tế kinh tế - xã hội, là sự lãng phí nguồn lực và rủi ro thất bại rất cao. Thay vào đó, "Việt Nam nên chọn lọc và áp dụng một số nguyên lý tuần hoàn vào hệ thống nuôi ao kết hợp truyền thống", vừa phù hợp điều kiện thực địa, vừa giải quyết được bài toán phòng ngừa dịch bệnh. Ông cũng ghi nhận tích cực rằng "Việt Nam đang tiếp thu rất tốt các đổi mới trong kiểm soát chất lượng nước, quản lý vi sinh, chọn giống và ứng dụng AI", nhưng cần lựa chọn công nghệ phù hợp với bối cảnh.

Thứ ba, theo Giáo sư Sorgeloos, cần phải chuyển hướng chiến lược từ cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và làm điều đó trước khi thị trường EU buộc phải làm. Đây là điểm ông xem là cơ hội chiến lược lớn nhất mà Việt Nam đang chưa khai thác đủ. Thị trường EU ngày càng khắt khe hơn với tôm và cá tra Việt Nam, từ chứng nhận ASC, GlobalGAP đến các quy định về dấu chân carbon trong khuôn khổ Thoả thuận Xanh châu Âu. Nhiều doanh nghiệp xem đây là gánh nặng.

Ông nhìn theo hướng ngược lại. "Tập trung nhiều hơn vào chất lượng, sức khoẻ động vật, chất lượng sản phẩm, điều kiện sinh thái, thay vì số lượng", ông khuyến cáo. Lý do là vì ông thấy rõ xu hướng không thể đảo ngược: người tiêu dùng EU sẵn sàng trả thêm cho sản phẩm có chứng nhận bền vững, và các nước đối thủ của Việt Nam trong xuất khẩu thủy sản như Ecuador, Ấn Độ, Indonesia cũng đang chạy đua đáp ứng tiêu chuẩn này. Ai về đích trước sẽ giữ được thị phần, ai chậm sẽ mất. Ông cũng thẳng thắn nhắc đến trách nhiệm của phía EU, rằng các quy định không nên biến thành rào cản kỹ thuật đẩy nhà sản xuất nhỏ của Việt Nam ra khỏi chuỗi giá trị, và hợp tác thực chất, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công cụ đánh giá, đào tạo, là nghĩa vụ của phía châu Âu.

Nhìn lại hành trình 40 năm, từ những đầm tôm đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long đến vị thế xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới hôm nay, Giáo sư Sorgeloos không có gì để nghi ngờ về tiềm năng và năng lực của Việt Nam. Ông khẳng định "Việt Nam có đầy đủ các bên liên quan ở cả ba tầng: đào tạo - nghiên cứu, nhà nước và doanh nghiệp. Tài sản lớn nhất không phải là sản lượng, mà là hệ sinh thái con người đã được xây dựng bền bỉ suốt bốn thập kỷ". Giáo sư hy vọng ngành thủy sản Việt Nam sẽ thay đổi để tiếp tục duy trì vị thế về xuất khẩu thủy sản./.

Lan Anh/TTXVN

Dành cho bạn

Cháy rừng dồn dập ở Nam Âu

Cháy rừng dồn dập ở Nam Âu

Các vụ cháy rừng nghiêm trọng đồng loạt bùng phát tại Nam Âu cuối tuần qua, buộc hàng trăm người phải sơ tán và khiến ít nhất 5 người bị thương tại Croatia và Tây Ban Nha, trong bối cảnh nắng nóng và hạn hán tiếp tục làm gia tăng nguy cơ cháy rừng trên khắp khu vực.