Tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung

Thời gian qua, nhiều ngân hàng thương mại đã “chạy đua” tăng lãi suất huy động ở cả kỳ hạn ngắn và dài. Theo Ngân hàng Nhà nước, diễn biến này không phải xu hướng chung mà chủ yếu mang tính chất tạm thời để dự trù nguồn vốn cho vay ở một số đơn vị, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh những tháng sau Tết.
Những chia sẻ dưới đây của ông Bùi Quốc Dũng, Vụ Chính sách Tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) sẽ làm rõ hơn vấn đề này. 
Thưa ông, ông đánh giá thế nào về việc một số ngân hàng thương mại đột ngột tăng mạnh lãi suất huy động VND trong thời gian gần đây?
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, 2 tháng đầu năm 2016 có 15 tổ chức tín dụng tăng lãi suất với mức tăng bình quân từ 0,1 - 0,2%/năm, trong khi có 6 tổ chức tín dụng lại giảm, bình quân từ 0,1 - 0,3%/năm. Vì vậy, mức lãi suất huy động hiện tại vẫn cơ bản ổn định so với cuối năm 2015. Cụ thể, mặt bằng bình quân kỳ hạn dưới 6 tháng từ 4,5 - 5,4%/năm, còn kỳ hạn 6 tháng trở lên từ 5,5 - 7,2%/năm.
Tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung ảnh 1

Khách hàng giao dịch tại VietinBank Chi nhánh thành phố Sơn La. Ảnh: Trần Việt - TTXVN

Kết quả đó cho thấy, việc tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung mà chủ yếu mang tính chất tạm thời để dự trù nguồn vốn cho vay ở một số đơn vị, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh những tháng sau Tết. Trên thực tế, cũng có nhiều ngân hàng thực hiện giảm lãi suất huy động. Việc một số ít ngân hàng thương mại đẩy lãi suất huy động trung dài hạn đến mức trên 8%/năm gần như chỉ để gây chú ý và quảng bá.
Vậy lý do sâu xa của việc tăng lãi suất huy động gần đây là gì, thưa ông?
Như phân tích trên thì Ngân hàng Nhà nước chưa thấy các yếu tố để gây áp lực lên lãi suất. Thay vào đó, khi cầu tín dụng tăng thì đã xuất hiện tâm lý dự trữ nguồn vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Hoạt động quản lý ở đây là ngoài việc kiểm soát thanh khoản để hỗ trợ kịp thời qua thanh kiểm tra trong trường hợp cần thiết thì Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm trần lãi suất; triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành bơm hút nhịp nhàng để ổn định thị trường. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng điều tiết lãi suất thị trường liên ngân hàng hợp lý để đóng vai trò neo giữ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Trước diễn biến tăng lãi suất huy động nói trên đã xuất hiện tâm lý lo ngại về mục tiêu giảm lãi suất để hỗ trợ sản xuất kinh doanh là khó thực hiện. Vậy quan điểm của ông như thế nào?
Sở dĩ thị trường xuất hiện tâm lý tăng lãi suất dự phòng bởi những yếu tố vĩ mô như: lạm phát năm nay dự kiến 3- 4%, trong khi năm 2015 lạm phát là 0,6%, như vậy kỳ vọng lạm phát cao hơn năm trước. Bên cạnh đó, dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2016 là 6,7%, cao hơn mức tăng trưởng thực 6,68% của năm 2015. Quan sát 5 năm gần đây, GDP năm sau luôn cao hơn năm trước, điều này sẽ dồn tích thêm nhu cầu vốn.
Trong khi nhu cầu vốn tăng nhưng tiền nhàn rỗi (tiết kiệm) giảm. Năm 2015, số tuyệt đối giữa huy động và cho vay đề cân bằng nhưng tốc độ tăng trưởng của tín dụng lớn hơn tốc độ tăng trưởng huy động (trên 17% so với trên 14%). Ngoài ra, yếu tố lợi suất trái phiếu Chính phủ cũng tác động khá mạnh lên mặt bằng lãi suất. Ngân sách năm 2016 tiếp tục khó khăn do giá dầu thô giảm (khoảng 50% so với dự toán) nên nhu cầu huy động trái phiếu để bù đắp bội chi tiếp tục lớn ở mức 220.000 tỷ đồng, cao hơn 2015. Yếu tố này sẽ tác động lên lợi suất trái phiếu Chính phủ và tác động dây chuyền tới lãi suất trung dài hạn.
Ba yếu tố nói trên sẽ tác động yếu tố tâm lý, khiến các tổ chức tín dụng tăng dự trữ nguồn. Mặc dù hiện tại chưa có gì căng thẳng nhưng các yếu tố trên lại nuôi dưỡng kỳ vọng của các tổ chức tín dụng, tạo nên phản ứng của thị trường như đã thấy.
Ở góc độ điều hành, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục kiên định điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, thực hiện linh hoạt việc bơm tiền ra/hút tiền về, thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác để điều tiết thanh khoản hợp lý hỗ trợ các tổ chức tín dụng có điều kiện cung ứng vốn thông suốt cho nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ điều hành lãi suất liên ngân hàng ở mức phù hợp với tương quan lãi suất thị trường, đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ thống, qua đó tạo điều kiện ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng nhưng vẫn kiểm soát được lạm phát và không gây áp lực lên tỷ giá.
Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp như vậy, cùng mục tiêu ổn định và phấn đấu giảm nhẹ mặt bằng lãi suất trung và dài hạn trong năm 2016 là khả thi.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Đỗ Huyền (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Cao tốc, sân bay và cảng biển tạo lợi thế tiếp cận, nhưng dòng vốn chỉ ở lại nơi có đất sạch, điện, nước, nhân lực, môi trường và thủ tục đủ tin cậy. Từ Vân Phong, Nhơn Hội, Buôn Ma Thuột đến Liên Chiểu và các đô thị dọc cao tốc Lâm Đồng, miền Trung - Tây Nguyên đang hình thành nhiều điểm hội tụ mới. Thách thức là biến các dự án riêng lẻ thành hệ sinh thái và phân chia lợi ích liên vùng.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.