Đất hiếm Việt Nam: Giá trị không chỉ nằm dưới lòng đất

Trong bối cảnh các nền kinh tế lớn đang tăng tốc xây dựng chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược, đất hiếm ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một nguồn tài nguyên mà còn là mắt xích quan trọng của các ngành công nghệ cao và quá trình chuyển đổi xanh.

vna-04.jpg
PGS Đặng Đức Huy (đứng thứ ba bên phải) chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận hợp tác giữa Đại học Trent và Đại học Tài nguyên Môi trường TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN phát

Đối với Việt Nam, tiềm năng về đất hiếm là đáng kể, nhưng theo PGS Đặng Đức Huy thuộc Viện Môi trường và Khoa Hóa học của Đại học Trent Canada, giá trị lâu dài của đất hiếm sẽ phụ thuộc chủ yếu vào khả năng làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Canada, PGS Đặng Đức Huy, người đã có nhiều năm nghiên cứu về hóa học môi trường, đất hiếm và khoáng sản chiến lược, với nhiều chương trình nghiên cứu được tài trợ tại Canada, cho rằng Việt Nam có nguồn tài nguyên đất hiếm đáng kể và có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, trữ lượng mới chỉ là điều kiện ban đầu.

PSG cho rằng khả năng tạo ra giá trị phụ thuộc vào công nghệ tuyển, phân tách và tinh luyện, cũng như năng lực sản xuất các vật liệu và sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao ngay trong nước. Nếu chủ yếu khai thác và bán nguyên liệu thô, phần giá trị kinh tế giữ lại sẽ không nhiều.

Năm 2024, PGS Đặng Đức Huy từng dẫn một đoàn công tác, gồm các giáo sư, nhà khoa học và sinh viên từ Canada cùng một số đối tác quốc tế tới khảo sát thực địa tại miền Bắc Việt Nam. Hoạt động nằm trong chương trình nghiên cứu về toàn bộ vòng đời của các nguyên tố đất hiếm.

Qua khảo sát, ông nhận thấy Việt Nam đã có những nhóm nghiên cứu có năng lực và một số hướng phát triển đáng chú ý. Nhưng khoảng trống hiện nay nằm ở sự phối hợp giữa nghiên cứu khoa học, công nghệ chế biến, các doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cộng đồng. Nếu họ được kết nối bằng chương trình dài hạn, Việt Nam sẽ có điều kiện hình thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh hơn.

Một trong những thách thức lớn của đất hiếm nằm ở chính đặc tính của loại tài nguyên này. Các nguyên tố đất hiếm không thực sự hiếm về mức độ hiện diện trong vỏ Trái đất, nhưng ít khi tập trung ở dạng có thể khai thác kinh tế. Do có tính chất hóa học gần nhau, việc phân tách và tinh luyện thường phức tạp, tốn kém và có thể phát sinh lượng chất thải đáng kể.

Bởi vậy, PGS Đặng Đức Huy cho rằng giá trị cao nhất của ngành này không nằm ở việc đưa quặng lên khỏi mặt đất, mà ở các khâu tuyển chọn, phân tách, tinh chế, sản xuất vật liệu, ứng dụng và tái chế. Trong các chương trình nghiên cứu mà nhóm của ông tham gia, đất hiếm được xem xét theo toàn bộ vòng đời của nó, từ khai thác, chế biến và sử dụng cho tới thu hồi từ rác thải điện tử và các sản phẩm đã qua sử dụng.

vna-01.jpg
PGS Đặng Đức Huy (trái) gặp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân chuyến công tác Canada cuối tháng 9 vừa qua của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Ảnh: TTXVN phát

Tại Việt Nam, nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực hóa học môi trường tập trung vào hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai và đang được mở rộng tới các lưu vực sông và vùng duyên hải khác. Mục tiêu là xây dựng dữ liệu nền để phân biệt nguồn tự nhiên với nguồn phát thải từ hoạt động của con người, đồng thời theo dõi quá trình vận chuyển các nguyên tố từ thượng nguồn qua cửa sông ra biển.

Theo PGS Đặng Đức Huy, những dữ liệu này cần được xây dựng trước khi hoạt động khai thác và chế biến phát triển mạnh. Nếu không có số liệu nền, việc xác định nguyên nhân ô nhiễm sau này sẽ rất khó khăn.

Từ góc độ kinh tế, ông cho rằng Việt Nam cũng cần thay đổi cách nhìn về đất hiếm, từ một loại khoáng sản được khai thác theo mô hình tuyến tính sang một nguồn vật chất có thể được tuần hoàn trong nền kinh tế.

Một nguyên tố đất hiếm có thể đi từ quặng qua các giai đoạn tuyển chọn, phân tách, tinh chế rồi được sử dụng để sản xuất vật liệu và sản phẩm công nghệ. Khi sản phẩm hết vòng đời, đất hiếm vẫn có thể trở thành nguồn nguyên liệu thứ cấp nếu có công nghệ thu hồi phù hợp. Các nguồn khác như bã quặng, xỉ than hay tro từ các nhà máy nhiệt điện cũng có thể được nghiên cứu để đánh giá khả năng thu hồi những nguyên tố có giá trị.

PGS Đặng Đức Huy cho rằng kinh nghiệm phát triển khoáng sản chiến lược của Canada cũng đặt trọng tâm vào toàn bộ chuỗi, từ thăm dò, khai thác, chế biến đến sản xuất và tái chế, nhằm tối ưu hóa giá trị kinh tế. Đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo, song cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện trong nước. Theo ông, có thể tóm lược định hướng phát triển chuỗi giá trị đất hiếm bằng 4 yêu cầu: khai thác với hiệu suất cao hơn, chế biến sâu hơn, kéo dài thời gian sử dụng vật liệu và thu hồi đất hiếm khi sản phẩm hết vòng đời.

Khi những yêu cầu này được đặt ra ngay từ giai đoạn thiết kế chính sách và lựa chọn công nghệ, bảo vệ môi trường sẽ không còn chỉ là biện pháp xử lý hậu quả, mà trở thành một tiêu chí xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị.

Một yếu tố khác có thể giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách công nghệ là khai thác tốt hơn nguồn lực của đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Trong bối cảnh Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị xác định người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực chiến lược và là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, PGS Đặng Đức Huy cho rằng lĩnh vực đất hiếm là một ví dụ cụ thể cho thấy nguồn lực này có thể được phát huy thông qua nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và kết nối với các mạng lưới khoa học quốc tế.

Theo PGS Đặng Đức Huy, đóng góp của một nhà khoa học ở nước ngoài không nhất thiết phải được đo bằng việc người đó có trở về làm việc lâu dài hay không. Họ có thể tham gia nhóm nghiên cứu chung, chia sẻ phương pháp phân tích, hỗ trợ tiếp cận thiết bị hiện đại hoặc kết nối Việt Nam với các phòng thí nghiệm, trường đại học và đối tác công nghệ quốc tế.

Trong lĩnh vực đất hiếm, Việt Nam có thể xác định các bài toán cụ thể về công nghệ phân tách, quan trắc môi trường, xử lý chất thải, tái chế và đào tạo chuyên gia, sau đó hình thành các nhóm gồm nhà khoa học trong nước, trí thức Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế để cùng tìm lời giải.

Đây có thể là con đường giúp Việt Nam chuyển từ lợi thế tài nguyên sang năng lực công nghệ, xây dựng chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao hơn và bảo đảm sự phát triển bền vững trong dài hạn.

Hà Linh/Pv TTXVN tại Canada

Dành cho bạn

Tăng tốc giải ngân đầu tư công, tiếp sức mục tiêu tăng trưởng hai con số

Tăng tốc giải ngân đầu tư công, tiếp sức mục tiêu tăng trưởng hai con số

GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, trong khi giải ngân vốn đầu tư công đến hết tháng 9 đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, cao hơn rõ rệt so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy đầu tư công đang phát huy vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, song với quy mô vốn rất lớn trong năm 2026, áp lực giải ngân những tháng cuối năm vẫn còn đáng kể.

Thái Lan dự báo giá dầu thô sẽ trong khoảng 95-105 USD/thùng

Thái Lan dự báo giá dầu thô sẽ trong khoảng 95-105 USD/thùng

Tập đoàn Năng lượng Quốc gia Thái Lan (PTT) dự báo giá dầu thô Dubai sẽ giao dịch trong khoảng từ 95 đến 105 USD/thùng trong tháng 10 và tháng 11/2026, trong bối cảnh thị trường chịu tác động đan xen giữa rủi ro địa chính trị gia tăng tại Trung Đông và sức ép ghìm giá từ các yếu tố kinh tế vĩ mô.

Không để nguồn lực 'đóng băng' trong các dự án chậm tiến độ

Không để nguồn lực 'đóng băng' trong các dự án chậm tiến độ

Tỉnh Quảng Trị đang tăng cường kiểm tra, xử lý các dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài, với yêu cầu không chỉ tháo gỡ vướng mắc để hoàn thành công trình mà quan trọng hơn là sớm đưa nguồn vốn đã đầu tư vào khai thác, phát huy hiệu quả.

Lãi suất huy động và bài toán đối với biên lãi ròng

Lãi suất huy động và bài toán đối với biên lãi ròng

Bước vào quý cuối năm, lãi suất huy động đã qua giai đoạn tăng mạnh nhưng vẫn neo ở mức cao. Trong khi đó, tín dụng tăng nhanh hơn nguồn vốn khiến áp lực huy động quay trở lại, đặt chi phí vốn vào thế giằng co với mục tiêu mở rộng tín dụng. Đây cũng là bài toán quan trọng đối với biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng trong những tháng cuối năm.