Tăng cường cho địa phương vay lại nguồn vốn vay nước ngoài

Ngày 31/5, tại Hà Nội, Bộ Tài chính tổ chức họp báo chuyên đề giới thiệu Nghị định 52/2017/NĐ-CP của Chính phủ về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài đối với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tăng cường cho địa phương vay lại nguồn vốn vay nước ngoài ảnh 1

Bà Nguyễn Xuân Thảo Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) trả lời báo chí. Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN

Bà Nguyễn Xuân Thảo, Phó Cục trưởng Cục quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết, Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng Nghị định của Chính phủ về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài, nhằm tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công theo chủ trương của Chính phủ tại Chỉ thị 02/CT-TTg ngày 14/2/2015.

Theo bà Thảo, giai đoạn 2004 - 2015, Việt Nam vay nước ngoài khoảng 45 tỷ USD; trong đó, khoảng 15,51 tỷ USD (chiếm 35%) cho các chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương, số còn lại là chi cho các dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương. Trong phần chi cho địa phương, có tới 92,2% số vốn được chi dưới dạng vốn cấp phát, chỉ 7,8% nguồn vốn được cho địa phương vay lại.

Do giai đoạn trước, có nhiều địa phương thực hiện dự án ODA chú trọng vào lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, hạ tầng nên không mang lại nguồn thu trực tiếp và thu ngân sách còn hạn chế. Do vậy, việc đẩy mạnh cho vay lại tại thời điểm đó cũng khó khăn. Nguồn vốn Chính phủ huy động được cũng có ưu đãi cao, lại thêm cho địa phương vay chưa hợp lý, nên việc cho vay lại thấp.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, tình hình vay ưu đãi đã ít đi nên cũng cần phải có cơ chế mới, mặc dù, việc cho vay lại đối với các địa phương cũng không thể quá cao để họ khó có khả năng trả nợ. Việc cho vay lại đối với các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải đảm bảo tuân thủ hạn mức nợ, xem xét dòng tiền trả nợ hàng năm, để gánh nặng nợ của địa phương không bị quá lớn. Bởi thực tế, chỉ có 10% ngân sách địa phương là để dành cho việc trả nợ. Từng năm, Quốc hội sẽ xem xét mức vay đối với các địa phương, nên việc cho vay quá mức cũng là điều khó có thể xảy ra, bà Thảo cho biết.

Từ tháng 7/2017, Việt Nam không còn được Ngân hàng thế giới (WB) cho vay ưu đãi theo điều kiện ODA. Sau đó, dự kiến các đối tác khác cũng sẽ cắt dần ưu đãi vốn cho Việt Nam vì Việt Nam hiện đã trở thành nước có thu nhập trung bình nên phải chuyển sang vay vốn theo điều kiện thị trường, ưu đãi ít hơn.

Bà Thảo cũng cho biết, việc huy động vốn ưu đãi từ nguồn bên ngoài cũng sẽ ngày càng giảm. Đó chính là lý do vì sao Việt Nam phải tăng cường hiệu quả sử dụng vốn vay; ưu tiên việc cho vay lại; đồng thời, gắn trách nhiệm người sử dụng vốn và người trả nợ. Địa phương nào không trả được nợ thì theo luật định, người vay có trách nhiệm trả nợ và bố trí vốn trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Nếu để nợ quá hạn trên 180 ngày, thì không được đề xuất và xem xét dự án cho vay lại từ vốn Chính phủ.

Thạch Huê (TTXVN)

Dành cho bạn

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 2: Để cảng biển không thành 'đảo hạ tầng'

Miền Trung có chuỗi cảng nước sâu trải dọc bờ biển, còn phía Tây là vùng sản xuất rộng lớn nối sang Lào và Campuchia nhưng một cầu cảng lớn không mặc nhiên có nguồn hàng, cũng như một tuyến cao tốc chưa chắc tạo nên hành lang kinh tế. Cuộc cạnh tranh mới nằm ở năng lực tổ chức hậu phương cảng, vận tải đa phương thức và hệ sinh thái dịch vụ giữ hàng hóa ở lại lâu hơn.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 1: Mở đường không gian cao nguyên - biển

Từ những tuyến cao tốc vượt Trường Sơn đến các cảng nước sâu hướng ra tuyến hàng hải quốc tế, một mạng kết nối mới đang hình thành ở miền Trung - Tây Nguyên. Tuy nhiên, những con đường chỉ thực sự tạo động lực tăng trưởng khi kết nối được vùng nguyên liệu, khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị và thị trường; khi các địa phương cùng tổ chức dòng hàng và chuỗi giá trị thay vì đầu tư từng công trình riêng lẻ.