“Tại sao Việt Nam?”

Lời bài hát “Tiến Quân ca” vang lên từ thành thị đến nông thôn hồi mùa thu năm Ất Dậu (1945) trong khí thế cách mạng hào hùng chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Một sỹ quan tình báo Mỹ đã viết một cuốn sách về Việt Nam, trong đó có chương về ngày 2/9/1945.


“Đoàn quân Việt Nam đi chung lòng cứu quốc


Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa,


Cờ in máu chiến thắng vang hồn nước,


Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca…”


Lời bài hát “Tiến Quân ca” vang lên từ thành thị đến nông thôn hồi mùa thu năm Ất Dậu (1945) trong khí thế cách mạng hào hùng chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

“Tại sao Việt Nam?” ảnh 1

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Đã qua 69 năm chiến đấu chiến thắng và xây dựng, hàng triệu người đã qua tuổi “thất thập” ai cũng nhớ lại năm tháng ấy. Trận đói lịch sử cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người cùng hậu quả của trận đại hồng thủy tàn phá ven sông Hồng vẫn không làm giảm khí thế cách mạng, vùng lên tổng khởi nghĩa đánh Nhật, lật đổ chính phủ Nam triều. Đặc biệt, ngày lễ Quốc khánh 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, có hàng chục vạn người tham gia chứng kiến giờ phút khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, được nghe Người đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” do Người viết ngay sau khi từ Tân Trào về Hà Nội một tuần lễ trước đó. Trong bản tuyên ngôn, Người khẳng định:


“Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững chủ quyền tự do, độc lập ấy…”.


Ngày 2/9/1945 mãi mãi đi vào lịch sử cả nước, ngày “độc lập đầu tiên” của dân tộc Việt Nam anh hùng sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ - ghi nhận chiến công của Việt Nam - dân tộc tiên phong trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới giữa thế kỷ 20 đầy biến động.


Ngày 2/9 năm ấy cũng là cái mốc mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng.


Trong ngày Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ở Hà Nội, tuy không có khách quốc tế, ngoại giao đoàn đến dự, nhưng lại có mặt viên sỹ quan tình báo Archiuedes L.A Patti - đứng đầu cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS) ở Vân Nam từng nhiều lần được tiếp xúc với Hồ Chủ tịch hồi tiền khởi nghĩa ở Côn Minh, Cao Bằng.


Sau này Patti dã viết cuốn sách “Why Việt Nam: (Tại sao Việt Nam) trong đó có 1 chương tả lại sự kiện ngày 2/9/1945 ở Hà Nội.


Patti đã viết:


“Sáng 1/9/1945 tôi và người bạn đi quanh thành phố, ngày hôm sau là ngày lễ lớn, khắp nơi tưng bừng không khí ngày hội, ai cũng bận rộn, hớn hở vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp; trước cửa mọi nhà là “cờ đỏ sao vàng”, “hoa, đèn, nhiều khẩu hiệu chăng trên đường, hô hào “độc lập, tự do cho Việt Nam”, thỉnh thoảng chúng tôi phải dừng xe nhường đường cho Hướng Đạo sinh, nữ du kích, bộ đội giải phóng đi qua, một đội quân nhạc đang tập diễn giữa một vườn hoa nhỏ bên đường.


Trò chuyện với một tốp đàn ông, họ trịnh trọng nói: Ngày mai Chính phủ sẽ ra mắt dân chúng, Cụ Hồ Chí Minh cầm đầu Chính phủ, dù người đó chưa hề thấy ông Hồ (kể cả ảnh cũng không) mà chỉ được nghe kể là Cụ Hồ làm cách mạng ở hải ngoại lâu năm.


Tôi hỏi lại ông ta có biết gì về xu hướng chính trị của Ông Hồ?


- Ồ, có chứ, ông Hồ là Việt Minh là một Đảng của nhân dân! - ông có biết Việt Minh là cộng sản không? - ông ta lúng túng và nói thật là không hiểu tôi nói gì về Cộng sản.


Qua câu chuyện tôi cũng nhận thấy ngay được một điều: Khi nói đến Ông Hồ Chí Minh thì ông ta tỏ vẻ “tự hào”, cứ như Ông Hồ là người thân của mình vậy, tôi đã gặp hiện tượng này nhiều lần trong thời gian ở Hà Nội.


Chiều ngày 1/9/1945 chúng tôi được Cụ Hồ mời ăn cơm tại Bắc Bộ Phủ. Cụ Hồ đã nói với chúng tôi rằng cuộc đi thăm phố phường của chúng tôi đã gây ra một sự “xôn xao” nho nhỏ, dân chúng đã vui sướng khi thấy chúng tôi quan tâm đến công việc chuẩn bị của họ cho buổi lễ ngày mai (2/9).
Tôi nói lại: “Mọi việc đã có ấn tượng mạnh mẽ với tôi, kể cả sự cởi mở của dân chúng”.


Về sự kiện ngày 2/9/1945 tại Hà Nội, ông A.Patti đã viết:


“Dân chúng Hà Nội kéo đến quảng trường Ba Đình từ sáng tinh mơ, có khá đông người ngoại thành, có cả người thiểu số ở miền núi, công nhân mặc áo sơ mi trắng, quần soóc xanh; phụ nữ mặc áo dài nhiều màu, tay khoác nón, một toán cố đạo Thiên chúa giáo mặc áo thầy tu, các nhà tu mặc áo cà sa, các chức sắc Cao đài mặc áo dài trắng có tua, họ mang nhiều khẩu hiệu tiếng Việt, Pháp, Anh: “Việt Nam của người Việt Nam”, “Thà chết không chịu làm nô lệ”, “Hoan nghênh đồng minh”…


… Có tiếng còi và các hiệu lệnh quân sự phát ra, cả rừng người im lặng, ai cũng chờ mong thấy vị lãnh đạo mới của dân tộc, cũng muốn biết điều bí mật về Cụ Hồ Chí Minh là ai? Trên lễ đài, ai cũng mặc đồ mới comple, cavát, trừ một người nhỏ nhắn, mặc quần áo kaki sẫm màu.


“Đó là ông Hồ Chí Minh”


Tiếng loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự yên lặng của mấy chục vạn con người - giới thiệu: “Cụ Hồ Chí Minh là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc” (cách viết của Patti), mọi người hô vang “Độc lập, độc lập”.


Ông Hồ mỉm cười, “nhỏ nhắn”, nhưng “vĩ đại” trong sự hân hoan của dân chúng. Ông giơ tay ra hiệu im lặng, rồi dõng dạc đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” có đoạn khẳng định, sau này trở thành nổi tiếng:


“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ quyền không ai có quyền xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc…”.


Đột ngột dừng lại, ông Hồ hỏi: “Đồng bào nghe rõ tôi nói không”?


Mọi người đáp: “rõ”


Đây là một nghệ thuật diễn thuyết “bậc thầy”, từ do dân chúng lắng nghe nắm lấy từng lời và qua đây chúng tôi (Patti) chẳng còn nghi ngờ gì nữa là Ông Hồ đã “thấu” đến dân chúng rồi.


Đến đêm hôm đó (2/9/1945), báo chí địa phương mới cung cấp nguyên văn bản “Tuyên ngôn độc lập” của Ông Hồ cho chúng tôi và chúng tôi chuyển ngay về “Côn Minh” bằng điện đài và gửi bản tường thuật và nhận định của chúng tôi (về ngày lễ Quốc khánh Việt Nam) về Côn Minh bằng máy bay (cất cánh từ Gia Lâm).

Nguyễn Tân Hòa (Hội Khoa học lịch sử Sơn La)