Lũng Cò - Sân bay quốc tế đầu tiên của cách mạng Việt Nam

Mặc dù mặt bằng không còn, chỉ có bia lưu niệm và một chiếc máy bay L5 của không lực Mỹ được trưng bày tại đây, nhưng trong những năm qua, di tích lịch sử sân bay Lũng Cò - sân bay quốc tế đầu tiên của cách mạng Việt Nam... luôn là một trong những địa điểm thu hút đông khách du lịch...

Mặc dù mặt bằng không còn, chỉ có bia lưu niệm và một chiếc máy bay L5 của không lực Mỹ được trưng bày tại đây, nhưng trong những năm qua, di tích lịch sử sân bay Lũng Cò - sân bay quốc tế đầu tiên của cách mạng Việt Nam, ở thôn Đồn Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) luôn là một trong những địa điểm thu hút đông khách du lịch đến thăm Tuyên Quang - Thủ đô kháng chiến.

Theo sự giới thiệu của cán bộ Ban quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, chúng tôi đã tìm đến di tích sân bay quốc tế đầu tiên của cách mạng Việt Nam cách Tân Trào khoảng 8 km, sân bay nằm ở giữa khe núi, phía trước là cánh đồng lúa xanh mướt.


Tiếp chúng tôi tại nhà làm việc của Ban quản lý Khu di tích lịch sử Công an nhân dân, trung úy Nguyễn Như Trang, Đội phó Đội hướng dẫn tuyên truyền Ban quản lý Khu di tích lịch sử Công an nhân dân cho biết: Di tích sân bay Lũng Cò nằm trong quần thể Khu di tích Nha Công an Trung ương (Công an nhân dân) có tổng diện tích 30 ha, gồm 11 điểm di tích và 1 di tích. Cũng theo trung úy Trang cho biết, cùng với Khu di tích Nha Công an Trung ương, di tích sân bay Lũng Cò là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng cho thể hệ trẻ hôm nay và mai sau.

Lũng Cò - Sân bay quốc tế đầu tiên của cách mạng Việt Nam ảnh 1

Bia di tích sân bay Lũng Cò.

Qua giới thiệu của trung úy Trang, chúng tôi được biết, đầu năm 1945, máy bay của phi công Sam (trung úy không quân Mỹ) bị lực lượng phòng không của Nhật Bản bắn rơi nên đã nhảy dù xuống Cao Bằng. Được du kích ta cứu thoát và đưa về gặp Bác Hồ, Sam rất xúc động. Sau đó viên trung úy này được đưa sang Trung Quốc trao trả cho quân Đồng minh. Ngày 29/3/1945, tại Côn Minh, Trung Quốc đã diễn ra cuộc gặp gỡ hữu nghị giữa Hồ Chí Minh đại diện cho Mặt trận Việt minh và Tướng Sê Nôn - Tư lệnh Không đoàn 14 của Mỹ. Tại buổi hội đàm, hai bên đã thỏa thuận được nhiều vấn đề quan trọng trong đó có việc xây dựng một sân bay để bảo đảm liên lạc giữa hai bên Việt - Mỹ.


Thời điểm này, tình hình trong nước và thế giới thuận lợi cho phong trào cách mạng phát triển, thời cơ khởi nghĩa đang đến gần. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ rời căn cứ Pắc Bó, Cao Bằng về Tân Trào tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Đồng thời kế hoạch xây dựng một sân bay dã chiến để đón quân Đồng minh cũng được Bác vạch ra.


Bước sang tháng 6/1945, Bác chỉ đạo cho đồng chí Lê Giản - Giám đốc Nha Công an Trung ương và đồng chí Đàm Quang Trung, chọn địa điểm và thực hiện kế hoạch xây dựng sân bay ngay, phối hợp với hai đồng chí còn có một thiếu tá quân sự Mỹ thuộc lực lượng cứu trợ không quân Mỹ (AGAS). Nhận được chỉ thị, hai đồng chí cùng cố vấn Mỹ lên Lũng Cò xem xét địa thế và đã chọn nơi đây làm địa điểm xây dựng sân bay, vì ở Lũng Cò có một dải đất rộng khoảng 4 ha nằm giữa khe núi bảo đảm an toàn cho các chuyến bay lên xuống thuận tiện, và Lũng Cò cách căn cứ Tân Trào không xa, do vậy có thể coi đây là địa điểm số một cho việc xây dựng sân bay.


Vào giữa tháng 6/1945, Bác Hồ đã lên Lũng Cò để xem xét địa điểm. Bác đã đồng ý xây dựng sân bay tại đây. Bắt tay vào công việc, những đồng chí được giao nhiệm vụ xây dựng sân bay đã vận động khoảng 200 người dân địa phương tại các xã xung quanh là Thanh La, Trung Yên, Tân Trào, Tú Trạc và một đơn vị bộ đội. Ban đầu mọi người dự định phải mất khoảng một tuần thì công việc mới hoàn tất được, nhưng với tinh thần cố gắng hết mình, chỉ sau hai ngày phát dọn, san gạt, đầm, một sân bay dã chiến đã hình thành. Sân bay xây dựng xong có chiều dài 400 m và rộng 20 m, đường băng của sân bay trải dài theo hướng nam - bắc, đầu hướng nam là nơi máy bay hạ cánh, phía cuối đường bay ở phía bắc có cây cối um tùm là nơi cất giấu máy bay, để báo hiệu cho máy bay mỗi lần hạ cánh. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu, loại máy bay L5 của Mỹ có thể hạ và cất cánh an toàn.


Chiếc máy bay đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Lũng Cò có hai sỹ quan quân Đồng minh và một số lương thực, thuốc men. Đồng chí Lê Giản, Đàm Quang Trung cùng với nhân dân địa phương đã tổ chức mít tinh chào mừng sự kiện này. Những khẩu hiệu hưởng ứng sự hợp tác giữa Việt minh và quân Đồng minh trên mặt trận chống phát xít Nhật được hô vang.


Trong suốt thời gian quân Đồng minh làm việc tại Tân Trào, nhiều chuyến bay cất và hạ cánh tại sân bay Lũng Cò với nhiệm vụ chủ yếu là đưa đón quân Đồng minh cũng như vận chuyển cho ta thuốc men, vũ khí từ Côn Minh sang. Cuối tháng 7/1945, Bác Hồ đã đến Lũng Cò và ở nhà ông Ma Văn Yến khoảng 10 ngày để chỉ đạo việc tiếp đón, phục vụ các chuyến bay của quân Đồng minh. Cùng ở với Bác trong căn nhà này còn có 8 người lính Đồng minh, trong số đó có một người làm nhiệm vụ liên lạc vô tuyến điện khi máy bay hạ cánh, được đặt tên bằng tiếng Việt là Nguyễn.


Khi tiến công đồn Nhật tại Tam Đảo, chúng ta đã giải phóng cho những người Pháp bị Nhật giam ở đây và đưa họ trở về sống tập trung tại một làng thuộc Tân Trào. Đến ngày 30/7/1945 những người Pháp bao gồm cả phụ nữ và trẻ em đã lên máy bay L5 từ sân bay Lũng Cò để trở về nước. Chuyến bay cuối cùng tại sân bay này chở trung úy Keent là một sỹ quan tình báo OSS về nước. Đồng chí Lê Giản được giao nhiệm vụ tiễn đưa chuyến bay cuối cùng này. Sau khi nhận được những lời chúc tốt lành từ đồng chí Lê Giản, trung úy Keent đáp lại rằng: “Chiến tranh với chúng tôi đã kết thúc, nhưng với các ông một cuộc chiến tranh mới vô cùng gian khổ bắt đầu. Xin chúc các ông sẽ giành được thắng lợi huy hoàng”.


Bà Hoàng Như Loan, Giám đốc Ban quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào cho biết: Mặc dù được xây dựng và sử dụng chỉ trong thời gian gần 2 tháng (từ tháng 6 đến tháng 8/1945), nhưng sân bay Lũng Cò góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945. Sân bay không chỉ là biểu tượng về tinh thần đoàn kết quốc tế chống phát xít trong Thế chiến II, mà còn là một trong những minh chứng cho bàn tay, khối óc người Việt trong gian khó. Đồng thời, sân bay cho thấy sự lãnh đạo tài tình của Bác Hồ và Đảng ta, tranh thủ sự giúp đỡ của quân Đồng minh; mở đầu cho thời kỳ hình thành và phát triển ngành hàng không Việt Nam.


Bài và ảnh: Vũ Quang Đán