TÀI NĂNG KHÔNG ĐƯỢC COI TRỌNG
Năm 1912, khi Alan Turing sắp sửa chào đời thì cha mẹ của ông đang công tác trong một cơ quan của Chính phủ Anh đặt tại thuộc địa Ấn Độ lúc bấy giờ. Mong muốn con mình được nuôi dạy tại nơi có điều kiện y tế và giáo dục phát triển hơn nên họ đã quay trở về London để sinh Alan. Sau đó, họ quyết định gửi gắm hai đứa con trai cho một cựu quân nhân về hưu chăm sóc để tiếp tục đi công tác. Phần lớn tuổi thơ của Alan và người anh trai tên John phải sống xa cha mẹ. Trí thông minh thiên bẩm của Alan đã bộc lộ ngay từ lúc lên hai, lên ba với khả năng tự học chữ và giải các câu đố.
Alan Turing tại trường Sherborne. |
Bỏ ngoài tai tất cả, ông tiếp tục thể hiện khả năng vượt trội ở những môn học yêu thích. 15 tuổi, Alan đã giải được toán bậc cao về hệ số các biến dù chưa từng học qua căn bản. Tiếp đến, ông bắt đầu tìm hiểu các nghiên cứu của thiên tài Albert Einstein, không những nắm vững mà Alan còn cố gắng theo tìm giải quyết thắc mắc của Einstein về một đoạn lý thuyết còn chưa rõ ràng trong Định luật chuyển động của Newton. Tại trường Sherbone, Alan có một tình bạn đặc biệt với cậu bạn Christopher Morcom - người được mô tả là “mối tình đầu” của ông. Mối quan hệ tốt đẹp giữa hai thiếu niên có chung sở thích khám phá khoa học chính là động lực để Alan cố gắng theo đuổi niềm đam mê của mình cho tới tận sau này. Tuy nhiên Morcom lại sớm qua đời khi mới đôi mươi, để lại cho cậu bạn thân nỗi thương tiếc to lớn.
Phòng điện toán tại Đại học King's nay được đặt theo tên Alan Turing. |
Mọi thứ đã sẵn sàng để Alan theo đuổi một sự nghiệp xuất sắc trong ngành toán học thuần túy. Thế nhưng sự quan tâm đặc biệt của ông trong việc tìm kiếm các ứng dụng thực tế cho những ý tưởng toán học trừu tượng đã đưa đẩy cuộc đời ông theo hướng hoàn toàn khác nhau.
Năm 1936, nhà toán học này đã cho ra đời một bài chứng minh về "Các số có thể tính, với áp dụng trong Entscheidungsproblem", trong đó ông đã trình bày quan điểm của mình về một “cỗ máy phổ quát” (sau này gọi là máy tính Turing) có khả năng tính toán bất cứ vấn đề toán học nào. Đây chính là khái niệm trung tâm dẫn đến sự ra đời của máy tính ngày nay, dựa trên chứng minh của ông. Tại thời điểm đó, ông cũng quyết định sang Mỹ để lấy bằng Tiến sĩ toán học và mật mã tại Đại học Princeton ở bang New Jersey. Trở về Cambridge hai năm sau đó, nhà toán học kiêm nhà mật mã học này vào làm việc bán thời gian tại Trường Mật mã và Cơ yếu Chính phủ Anh (GC&CS) - một tổ chức chuyên trách giải mã các hành động chiến tranh của quân đội Đức.