Phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn chặt với bảo tồn
Đại biểu Bùi Văn Mạnh, Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình, tán thành cao với sự cần thiết ban hành luật. Từ thực tiễn địa phương, đại biểu Bùi Văn Mạnh cho rằng du lịch là cầu nối quan trọng thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa như nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực, thiết kế và nội dung số.
Tỉnh Ninh Bình có nguồn tài nguyên văn hóa, di sản phong phú, tạo điều kiện phát triển các sản phẩm du lịch đặc sắc. Tuy nhiên, sự liên kết giữa du lịch và công nghiệp văn hóa vẫn chưa hình thành đầy đủ chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, để hoàn thiện dự thảo luật, đại biểu Bùi Văn Mạnh đề nghị xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tập trung vào 6 nhóm vấn đề: Làm rõ phạm vi công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa và ẩm thực, lấy giá trị văn hóa, hoạt động sáng tạo làm nền tảng. Mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách, bảo đảm doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, nghệ nhân, tổ hợp tác, cá nhân sáng tạo và cộng đồng được tiếp cận các hỗ trợ. Phát huy tính chủ động của địa phương trong ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù, phù hợp với tiềm năng, bản sắc văn hóa và khả năng cân đối ngân sách. Bổ sung cơ chế để cộng đồng tham gia và hưởng lợi từ việc khai thác các giá trị văn hóa truyền thống. Tạo điều kiện tiếp cận không gian sáng tạo, hạ tầng và thị trường. Đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm nguồn lực thực hiện.
Đại biểu Bùi Văn Mạnh khẳng định, phát triển công nghiệp văn hóa cần gắn chặt với bảo tồn và phát huy giá trị di sản, lấy người dân làm trung tâm. Khi người dân có sinh kế bền vững từ văn hóa, họ sẽ có thêm điều kiện và động lực gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Đại biểu mong muốn dự án luật sớm được thông qua, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các địa phương triển khai thực hiện.
Làm rõ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa
Nhấn mạnh về dự án Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa, đại biểu Phan Anh Sơn (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An) nhất trí về sự cần thiết xây dựng luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 80 để giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực bứt phá mới của đất nước và khắc phục các điểm nghẽn, khoảng trống pháp lý.
Theo đại biểu Anh Sơn, thuật ngữ "hoạt động công nghiệp văn hóa" được giải thích là hoạt động nằm trong chuỗi giá trị hoặc hỗ trợ chuỗi giá trị, đây là cách giải thích theo phương pháp bắc cầu, không chỉ ra được bản chất đặc trưng của hoạt động công nghiệp văn hóa khác với các hoạt động kinh tế - xã hội hay công nghệ khác.
Từ đó, đại biểu Anh Sơn đề nghị cân nhắc không cần thiết phải giải thích song song hai thuật ngữ "chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa" và "hoạt động công nghiệp văn hóa", vì nội hàm giải thích chuỗi giá trị đã đi vào bản chất của hoạt động công nghiệp văn hóa hơn. Đồng thời, cách giải thích bắc cầu dẫn đến hiểu các hoạt động cung cấp vốn, dịch vụ tài chính hay cán bộ tín dụng cũng là người làm công nghiệp văn hóa, điều này khó chấp nhận về mặt nhận thức.
Đại biểu Anh Sơn kiến nghị dự thảo nên chỉnh lý theo hướng giải thích biệt lập hai thuật ngữ "hoạt động công nghiệp văn hóa" và "hoạt động hỗ trợ công nghiệp văn hóa" không gắn với chuỗi giá trị. Trong đó, thuật ngữ "hoạt động công nghiệp văn hóa" nên chỉnh lý thành hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối, kinh doanh, khai thác, tái đầu tư sản phẩm, dịch vụ trong các ngành công nghiệp văn hóa theo quy định của luật này.
Về chính sách hỗ trợ thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa thông qua “Thẻ văn hóa quốc gia” tại Điều 28, đại biểu Anh Sơn ủng hộ Nhà nước có chính sách hỗ trợ người dân, nhất là các nhóm đối tượng chính sách thụ hưởng sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ thẻ văn hóa quốc gia và luật hóa ngay trong luật có nhiều khía cạnh cần cân nhắc.
Thứ nhất, về tên gọi, nếu mục tiêu nhằm nâng cao thụ hưởng văn hóa của các đối tượng ưu tiên (người có công, học sinh, sinh viên, người cao tuổi, hộ nghèo, cận nghèo, người khuyết tật) thì tên gọi "Thẻ phúc lợi văn hóa" sẽ phù hợp hơn về ý nghĩa và mục đích sử dụng.
Thứ hai, nếu mục tiêu kích cầu tiêu dùng diện rộng ở quy mô quốc gia thì cần đánh giá tác động kỹ lưỡng về khả năng bảo đảm ngân sách.
Thứ ba, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đã vận hành hệ thống VNeID, không nhất thiết phải phát hành một loại thẻ riêng mà có thể lồng ghép bằng các công cụ nhận diện đã có như căn cước công dân, thẻ sinh viên, giấy chứng nhận khuyết tật để tiết kiệm chi phí.
Thứ tư, khoản 4 quy định các sản phẩm được hỗ trợ tiêu dùng chưa thực sự rõ ràng và hợp lý, nên thiết kế các nguyên tắc và hệ tiêu chí lựa chọn thay vì gọi tên sản phẩm ngay trong luật.
Từ đó đại biểu Anh Sơn đề xuất điều chỉnh Điều 28 tập trung vào các nguyên tắc nền tảng về hỗ trợ tiêu dùng, không nên quy định ngay thẻ văn hóa trong luật mà giao Chính phủ quy định để bảo đảm sự linh hoạt, quy định tinh gọn về chính sách ưu tiên cho các đối tượng khó khăn và giao Chính phủ quy định đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ cũng như danh mục sản phẩm, dịch vụ.
Phát triển không gian sáng tạo và công nghiệp văn hóa gắn với di sản
Góp ý về nguồn lực phát triển, không gian sáng tạo và công nghiệp văn hóa gắn với di sản, di tích, đô thị di sản và phát triển du lịch, đại biểu Nguyễn Thị Uyên Trang (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp) cho rằng: Về nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa tại Điều 4 và Điều 6, bên cạnh tài chính và nhân lực, thì di sản, tri thức, năng lực sáng tạo và mạng lưới cộng đồng chính là nguồn lực tạo nên bản sắc riêng cho từng địa phương.
Để chuyển hóa các nguồn lực này thành giá trị kinh tế, cần có cơ chế tiếp cận và khai thác hợp pháp. Đại biểu Uyên Trang đề nghị bổ sung vào Điều 4 chính sách đối với nguồn lực đặc thù: Nhận diện, bảo tồn, phát triển và tạo điều kiện tiếp cận, khai thác hợp pháp nguồn lực di sản văn hóa, sáng tạo, tri thức và nguồn lực xã hội để phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể nắm giữ nguồn lực.
Về chia sẻ và bảo vệ dữ liệu tại khoản 3 Điều 22 (hoặc Điều 2), dự thảo quy định quyền kết nối, chia sẻ dữ liệu và yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhưng chưa quy định cụ thể trách nhiệm cung cấp thông tin kèm theo. Thực tế, khi doanh nghiệp hay hợp tác xã sử dụng hình ảnh, hiện vật hay bản ghi âm di sản để phát triển sản phẩm (ví dụ làng nghề nem Lai Vung ở Đồng Tháp), nếu không xác định được dữ liệu đó có hợp pháp hay không thì khi phát hiện vi phạm sẽ bị thiệt hại rất lớn.
Đại biểu Uyên Trang đề nghị bổ sung quy định cơ quan, tổ chức quản lý dữ liệu có trách nhiệm cung cấp thông tin hiện có về nguồn gốc, tình trạng quyền, phạm vi sử dụng và đầu mối liên hệ đối với dữ liệu được chia sẻ; trường hợp chưa xác định được thông tin về quyền sử dụng thì phải ghi rõ để các chủ thể không sử dụng.
Về không gian sáng tạo tại Điều 17 và Điều 32, cần tạo cơ chế pháp lý ổn định để hình thành và vận hành các tổ hợp sáng tạo. Tại điểm c khoản 2 Điều 17, đại biểu đề xuất bổ sung quy định: Đối với tổ hợp hình thành từ công trình hiện hữu, phương án phải xác định căn cứ pháp lý về sử dụng đất, công năng, khai thác tài sản, phạm vi, thời hạn, trách nhiệm quản lý và phương án xử lý khoản đầu tư cải tạo khi kết thúc sử dụng. Tại khoản 9 Điều 32, đề nghị bổ sung nội dung hỗ trợ bao gồm chi phí sử dụng không gian sáng tạo, sản xuất, trình diễn, truyền nghề và hạ tầng dùng chung gắn với hoạt động thực tế và kết quả kiểm chứng được.
Về gắn kết công nghiệp văn hóa với di sản, di tích, đô thị di sản và phát triển du lịch tại Điều 8, đại biểu Uyên Trang đề nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 8 nội dung hỗ trợ chuyên biệt về liên kết phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa với di sản, di tích và các đô thị có di sản. Phương án thực hiện phải xác định sản phẩm đầu ra, trách nhiệm bảo tồn, truyền dạy, sự tham gia và cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Việc phát triển du lịch văn hóa phải dựa trên sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương để bảo đảm sinh kế và phát triển bền vững.