Nhiều kỳ vọng cho công nghệ vật liệu mới

Sáng 30/3, Hội nghị tổng kết chương trình khoa học và công nghệ (KH&CN) trọng điểm cấp nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ vật liệu mới” giai đoạn 2011- 2015 (KC02/11-15) đã diễn ra tại Hà Nội

Tại hội nghị, ban chủ nhiệm chương trình đã đánh giá lại những kết quả đã đạt được cũng như những khó khăn, tồn tại trong giai đoạn vừa qua. Bên cạnh đó, các đơn vị cũng báo cáo các kết quả nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực công nghệ vật liệu mới.

Nhiều kỳ vọng cho công nghệ vật liệu mới ảnh 1

Hôi nghị tổng kết chương trình KC02 giai đoạn 2011- 2015.

Theo GS.TS Nguyễn Việt Bắc, chủ nhiệm chương trình KC02/11- 15 cho biết: Trong giai đoạn 5 năm qua, chương trình KC02 đã cho những kết quả đáng ghi nhận, đạt được các chỉ tiêu đề ra, thu hút được nhiều cán bộ nghiên cứu từ các Bộ, ngành tham gia. Cụ thể, đã hoàn thành được 239 sản phẩm, trong đó có 108 loại vật liệu, sản phẩm thành phẩm; 131 quy trình công nghệ, thiết kế, mô hình ứng dụng. Trong đó, có 55 loại sản phẩm đã bắt đầu được thương mại hóa như: Một số vật liệu như nano clay MMT, bột huỳnh quang 3 màu, lốp máy bay bơm hơi không săm... Các kết quả nghiên cứu có nhiều sản phẩm thể hiện rõ tính mới, đạt trình độ ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới.

Cũng theo ông Bắc, các sản phẩm của chương trình vẫn còn những tồn tại như: Một số đề tài mới chỉ dừng ở việc chế tạo ra vật liệu, sản phẩm với số lượng không nhiều, quy mô thử nghiệm không lớn nên chưa đảm bảo được độ ổn định, kiểu dáng, chất lượng chế tạo. Bên cạnh đó, nhiều cơ quan chủ trì đã ký nhiều hợp đồng đề tài nhưng lại xin rút không thực hiện vì thiếu kinh phí đối ứng, giá thành sản phẩm bị vượt so với dự toán do trượt giá nguyên liệu...

Để những nghiên cứu các loại vật liệu mới có thể được ứng dụng hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh trên thực tế, theo các chuyên gia, rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước cả về chính sách và kinh phí.

Sự ra đời của các vật liệu mới đánh dấu sự phát triển vượt bậc của KHCN. Chương trình KC02 cũng đã thể hiện sự quan tâm rất lớn của Nhà nước đến lĩnh vực này, nhằm tạo ra nhiều nguồn vật liệu mới, nâng cao hiệu quả ứng dụng, sản xuất.

Tạ Nguyên

Dành cho bạn

Khi cuộc đua AI làm gia tăng lo ngại về mối đe doạ với nhân loại

Khi cuộc đua AI làm gia tăng lo ngại về mối đe doạ với nhân loại

Cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI) đang tăng tốc, trong khi cạnh tranh có nguy cơ khiến các doanh nghiệp xem nhẹ an toàn, làm gia tăng những rủi ro khó kiểm soát. Diễn biến này đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam trong thực hiện Nghị quyết 57: phát triển và làm chủ AI phải song hành với xây dựng năng lực quản trị, kiểm soát và bảo đảm an toàn.
Tìm giải pháp kéo dài tuổi thọ phù điêu Mậu Thân 1968

Tìm giải pháp kéo dài tuổi thọ phù điêu Mậu Thân 1968

Nắng nóng, độ ẩm và nước mưa có thể âm thầm tác động đến bức phù điêu bằng đồng tại Khu truyền thống cách mạng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Từ những vị trí dễ hư hỏng được nhận diện, nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp theo dõi và bảo trì chủ động nhằm kéo dài tuổi thọ công trình..
TP Hồ Chí Minh cụ thể hóa Nghị quyết 57 - Bài cuối: Thu hút nhân tài, tạo động lực mới

TP Hồ Chí Minh cụ thể hóa Nghị quyết 57 - Bài cuối: Thu hút nhân tài, tạo động lực mới

Để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, TP Hồ Chí Minh đang đặt trọng tâm vào một nguồn lực có tính quyết định: con người. Từ chính sách thu hút chuyên gia đến việc tạo môi trường để người giỏi giải quyết những bài toán lớn, Thành phố đang từng bước tìm cách biến tri thức thành năng lực đổi mới và giá trị cụ thể.
TP Hồ Chí Minh cụ thể hóa Nghị quyết 57 - Bài 2: Khi khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến thị trường được rút ngắn

TP Hồ Chí Minh cụ thể hóa Nghị quyết 57 - Bài 2: Khi khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến thị trường được rút ngắn

Nếu các cơ chế mới là “đường băng” để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo "cất cánh" thì thị trường mới là nơi quyết định công nghệ có tạo ra giá trị hay không. TP Hồ Chí Minh đang tìm cách rút ngắn khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến doanh nghiệp, từ ý tưởng đến sản phẩm, qua đó biến nguồn lực tri thức thành một động lực tăng trưởng thực chất.