Trên những cánh đồng lúa tại một nông trại thuộc Tập đoàn Beidahuang, tỉnh Hắc Long Giang, Đông Bắc Trung Quốc, người nông dân Ngụy Quốc Đông nhẹ nhàng xoa bông lúa vừa hái trong lòng bàn tay, để lộ những hạt thóc chắc mẩy, sáng bóng. “Vụ mùa năm nay có vẻ rất khả quan”, ông nói với nụ cười trên môi.
Theo Tân Hoa Xã, nông trại này thuộc Công ty Nông nghiệp Hắc Long Giang, doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán thuộc Tập đoàn Beidahuang, một doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước quy mô lớn của tỉnh.
Sự lạc quan của ông Ngụy đã được hình thành từ nhiều tháng trước, ngay từ khi bắt đầu gieo mạ. Các nhà kính tại nông trại được nâng cấp với hệ thống giám sát và điều khiển thông minh, đánh dấu bước chuyển trong phương thức sản xuất lúa gạo tại một trong những vùng sản xuất lương thực trọng điểm của Trung Quốc.
Lưu Đông, một quản lý tại chi nhánh Nông trại 852, cho biết trong năm nay, công ty đã đầu tư cải tạo các nhà kính ươm mạ, lắp đặt hệ thống cảm biến, thiết bị cuốn màng tự động, van tưới thông minh và camera giám sát toàn cảnh. Hệ thống hoạt động liên tục, theo dõi độ pH của đất, nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng, giúp một kỹ thuật viên có kinh nghiệm quản lý tới ba nhà kính, giảm khoảng 60% chi phí nhân công.
Việc ứng dụng dữ liệu tiếp tục được duy trì trong suốt mùa hè, khi cây trồng dễ bị ảnh hưởng bởi cỏ dại, sâu bệnh và thời tiết. Tại nông trại, robot diệt cỏ bằng tia laser tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) sử dụng camera công nghiệp để nhanh chóng phân biệt cây trồng với cỏ dại. Với độ chính xác đến từng milimét và tỷ lệ diệt cỏ trên 95%, thiết bị có thể xử lý từ 5,3-6,7 ha mỗi ngày. Công nghệ này vừa góp phần khắc phục tình trạng thiếu lao động, vừa giảm sử dụng thuốc diệt cỏ.
Trong khi đó, tại Nông trường Hạc Sơn, các thiết bị bay không người lái sử dụng công nghệ đa phổ cùng thiết bị đo đạc trên mặt đất được dùng để xác định hàm lượng diệp lục và mức độ chín của cây đậu tương. Dữ liệu thu thập được kết hợp với thông tin từ hệ thống viễn thám vệ tinh để xây dựng bản đồ độ chín trên đồng ruộng. Nhờ đó, người sản xuất có thể xác định khu vực đã đến thời điểm thu hoạch, khu vực cần chờ thêm và thời gian thu hoạch phù hợp.
Ông Lưu Triệu Khải, Phó trưởng phòng Phát triển Nông nghiệp của nông trường, cho biết: “Trước đây, chúng tôi dựa vào kinh nghiệm, còn hiện nay, chúng tôi dựa vào dữ liệu”.
Những thay đổi tại Beidahuang phản ánh xu hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Hắc Long Giang. Tỷ lệ cơ giới hóa nông nghiệp của tỉnh đạt 99,34%, cao nhất Trung Quốc. Các khu trình diễn nông nghiệp thông minh đang được xây dựng, góp phần chuyển phương thức canh tác từ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và kinh nghiệm của người nông dân sang theo dõi, điều hành dựa trên dữ liệu. Đây cũng là hình ảnh thu nhỏ của quá trình ứng dụng nông nghiệp thông minh đang diễn ra tại hàng nghìn nông trại trên khắp Trung Quốc.
Trên phạm vi cả nước, phát triển nông nghiệp thông minh đã trở thành một trong những ưu tiên chính sách của Trung Quốc. Bộ Nông nghiệp và Nông thôn nước này triển khai kế hoạch hành động, kêu gọi xây dựng các khu trình diễn nông nghiệp thông minh, phát triển nền tảng dữ liệu lớn phục vụ sản xuất và mở rộng ứng dụng thiết bị thông minh.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc Trương Hưng Vượng cho biết năm 2025, tiến bộ khoa học và công nghệ đóng góp hơn 64% vào sự phát triển của ngành nông nghiệp nước này. Công nghệ thông minh hiện được ứng dụng trên toàn chuỗi sản xuất nông nghiệp. Trung Quốc có hơn 300.000 thiết bị bay không người lái phục vụ nông nghiệp, với tổng diện tích hoạt động hằng năm vượt 30,66 triệu ha.
Đối với người nông dân, sự thay đổi này thể hiện rõ ngay trên đồng ruộng. Những hạt lúa trên tay ông Ngụy vẫn mang hương vị quen thuộc, nhưng cách thức sản xuất đã khác trước. Kinh nghiệm canh tác truyền thống nay được hỗ trợ bởi hệ thống cảm biến, thuật toán và màn hình điều khiển, giúp người nông dân theo dõi sát hơn tình trạng cây trồng và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Tại Việt Nam, Đồng Tháp là một trong những địa phương đang thúc đẩy ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp. Tỉnh đã triển khai các giải pháp như xây dựng nền tảng dữ liệu số nông nghiệp, ứng dụng thiết bị bay không người lái, tưới tiêu thông minh và cơ giới hóa các khâu sản xuất. Những mô hình này góp phần giảm chi phí, nâng cao năng suất và giá trị nông sản, đồng thời hỗ trợ người nông dân quản lý sản xuất hiệu quả hơn.
Kinh nghiệm từ Hắc Long Giang và thực tiễn tại Đồng Tháp cho thấy ứng dụng khoa học, công nghệ và dữ liệu có thể tạo ra những thay đổi thiết thực trong phương thức canh tác. Đây cũng là hướng đi phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Để mở rộng hiệu quả, Việt Nam cần tiếp tục phát triển hạ tầng số, nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ của người nông dân và thúc đẩy các mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất của từng địa phương.