Mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí

Chính phủ ban hành Nghị định số 265/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.

Nghị định này quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí, bao gồm: các hành vi vi phạm hành chính trong tổ chức thực hiện pháp luật tiết kiệm, chống lãng phí quy định tại Điều 5 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.

Các hành vi vi phạm hành chính do thực hiện các hành vi gây lãng phí và các hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí khác không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các Nghị định khác của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.

Về vi phạm quy định về thời hạn ban hành, nội dung của Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định quy định:

1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi chậm ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí so với thời hạn quy định dưới 30 ngày.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí hoặc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định đối với hành vi quy định tại khoản 2, khoản 3 nêu trên.

Đối với vi phạm trong thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí đã ban hành, Nghị định quy định:

1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi tổ chức thực hiện không đúng tiến độ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức thực hiện không đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Không phân công trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.

Phạt đến 10 triệu đồng đối với hành vi báo cáo không trung thực về kết quả, số liệu công tác tiết kiệm, chống lãng phí

Đối với vi phạm về thời hạn, nội dung báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định quy định:

1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định dưới 15 ngày.

2. Phạt tiền đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 15 ngày đến dưới 30 ngày;

b) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí hoặc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên.

3. Phạt tiền đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung, yêu cầu theo quy định của pháp luật;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực về kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2 và điểm a khoản 3 nêu trên;

b) Buộc cải chính thông tin báo cáo về kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 nêu trên.

Đối với vi phạm quy định về cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định quy định:

1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi cập nhật từng loại thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định dưới 15 ngày.

2. Phạt tiền đối với hành vi cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cập nhật từng loại thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 15 ngày đến dưới 30 ngày;

b) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không cập nhật từng loại thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí hoặc cập nhật từng loại thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên.

3. Phạt tiền đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cập nhật không đầy đủ dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định pháp luật;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cố ý cập nhật dữ liệu không chính xác, không trung thực.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc cập nhật thông tin, dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2 và điểm a khoản 3 nêu trên;

b) Buộc cập nhật lại dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 3 nêu trên.

Đối với vi phạm quy định về thời hạn, nội dung và hình thức công khai về tiết kiệm, chống lãng phí, Nghị định quy định:

1. Phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Công khai về tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định dưới 15 ngày;

b) Công khai về tiết kiệm, chống lãng phí không đúng hình thức theo quy định.

2. Phạt tiền đối với hành vi công khai về tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi công khai về tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 15 ngày đến 30 ngày;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi không công khai về tiết kiệm, chống lãng phí hoặc công khai về tiết kiệm, chống lãng phí chậm so với thời hạn quy định từ 30 ngày trở lên.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi công khai không đầy đủ nội dung phải công khai theo quy định.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cố ý công khai không chính xác, không trung thực nội dung về tiết kiệm, chống lãng phí.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc công khai về tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng quy định đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 3 nêu trên;

b) Buộc cải chính nội dung công khai về tiết kiệm, chống lãng phí đối với hành vi quy định tại khoản 4 nêu trên.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.

(TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc)

Dành cho bạn

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Quy định mới về trách nhiệm của tổ chức kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dữ liệu

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc ký ban hành Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 4 Nghị định về khoa học, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; phòng cháy, chữa cháy; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình.
Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo - Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Khơi thông dòng vốn đổi mới sáng tạo - Bài cuối: Đưa quỹ phát triển khoa học từ sổ sách vào dự án

Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã tạo ra nguồn vốn đáng kể ngay trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại TP Hồ Chí Minh, mới có 33,8% tổng số tiền trích lập được sử dụng. Việc tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, mở rộng phạm vi chi và kết nối nguồn quỹ với doanh nghiệp khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ đưa nguồn vốn này vào các dự án cụ thể.
Các đô thị chung tay kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Các đô thị chung tay kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Sáng 11/9, tại phường Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Hội nghị Thị trưởng diễn ra trong khuôn khổ Đối thoại Hữu nghị TP Hồ Chí Minh lần thứ 3. Lãnh đạo các địa phương trong nước và quốc tế đã chia sẻ nhiều sáng kiến về ngoại giao đô thị, phát triển kinh tế xanh, tăng khả năng chống chịu, xây dựng đô thị thông minh và kết nối logistics. Các ý kiến cùng hướng đến việc chuyển quan hệ hữu nghị thành chương trình hợp tác cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân.