Bắt đầu từ tháng 8 hàng năm, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bước vào mùa nước nổi, mùa làm ăn quan trọng nhất trong năm. Lúc này, nước từ thượng nguồn theo 2 nhánh sông Tiền, sông Hậu tràn về vừa đem phù sa bồi đắp cho đồng ruộng, vừa giúp không ít hộ dân có thu nhập cao nhờ mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa.
“Thủ phủ” huyện Tam Nông
Mùa nước nổi hàng năm luôn là niềm mong đợi, khao khát của không ít người dân vùng ĐBSCL. Đây là thời điểm gieo cấy lúa vụ ba nhưng hầu hết bà con chỉ gieo sạ ở những diện tích ăn chắc, còn lại bà con cho nước ngập đồng nhằm cho đất gội rửa phèn và diệt trừ cỏ dại… “Nhưng đó chỉ là thời điểm 5 - 6 năm về trước thôi.
Mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa mùa nước nổi đang mở ra hướng làm ăn mang lại thu nhập cao cho người dân vùng lũ. |
Hiện nay, người dân, đặc biệt ở huyện Tam Nông, lại đi đầu trong áp dụng mô hình nuôi tôm càng xanh trên đất ruộng mùa nước nổi để tận dụng triệt để lợi thế nước lũ. Mùa lũ năm nay, tỉnh có kế hoạch mở rộng diện tích xuống giống tôm càng xanh mùa lũ lên đến 2.000 ha, tăng hơn 35% so với cùng kỳ và dự kiến đến năm 2015 sẽ tăng lên khoảng 3.200 ha với hơn 1.000 hộ tham gia”, anh Trần Hồng Lạc, Trưởng trạm khuyến nông huyện Tam Nông (Đồng Tháp), cho biết.
Sau khi thu hoạch lúa đông xuân, người dân đã nhanh tay cải tạo mặt ruộng, đắp bờ bao lửng và làm vệ sinh bằng vôi bột, mua cọc tràm, lưới cước, thiết kế vuông nuôi thả tôm càng xanh giống và vuông ương nuôi. Bắt đầu nuôi thử nghiệm tôm càng xanh trên vùng lũ từ năm 2005, anh Hùng, nhà ở xã Phú Thành B đã nhanh chóng “bén duyên” với nghề. Theo anh, lũ càng lớn, nước về càng nhiều thì tôm càng tăng trưởng nhanh, ít dịch bệnh và ít tiêu tốn thức ăn. Tháng 10 hàng năm nước đã ngập đồng, nhưng năm nay nước mới lấp ló chân ruộng nên anh và nhiều hộ đang ít nhiều lo lắng.
Anh Hùng cho biết: “Thông thường trung bình cứ 4 kg thức ăn sẽ cho ra 1 kg tôm thương phẩm. Hàng năm anh cũng như các hộ khác thường áp dụng mô hình luân phiên xen kẽ vụ tôm, vụ lúa. Với giá cả hiện từ 180.000 - 200.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, anh lãi gần 100 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn nhiều so với trồng lúa. Ngoài ra, nuôi tôm càng xanh còn ít lo toan về đầu ra như những loại vật nuôi khác. Đến nay, tôm càng xanh đã được nhiều doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu trong và ngoài địa bàn tỉnh nhận bao tiêu như: Công ty CP Đầu tư thương mại thủy sản Incomfish, Công ty CP Thương mại thủy sản Á châu - Acomfish…”.
Nhiều lợi ích
Theo thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp, vụ nuôi tôm năm 2011 trong tổng số hộ nuôi tôm cành xanh ở huyện Tam Nông, hơn 80% hộ đạt lợi nhuận cao. Số còn lại do mới tham gia mô hình chưa có nhiều kinh nghiệm chỉ hòa vốn hoặc lỗ nhẹ. Điều quan trọng hơn, việc nuôi tôm càng xanh thành công trên ruộng mùa nước nổi đã mở ra triển vọng khai thác tiềm năng về mặt nước trong mùa lũ, đưa vòng quay của đất lên từ 2 đến 3 lần/năm, góp phần tăng độ phì nhiêu và giá trị sử dụng của đất, góp phần giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nhàn rỗi ở địa phương và xóa đói, giảm nghèo cho nhiều hộ dân… Hiện, nhiều xã trên địa bàn huyện như Phú Ninh, Phú Thọ… đã vào vụ thu hoạch tôm càng xanh thương phẩm mùa nghịch. Mặc dù chi phí đầu tư nuôi cao, người nuôi vất vả trong khâu bảo vệ và chăm sóc nhưng nhờ tôm tăng trưởng nhanh, bán được giá nên rất nhiều hộ thu lãi cao.
Theo định hướng của tỉnh Đồng Tháp, huyện Tam Nông sẽ mở rộng vùng nguyên liệu theo hướng tập trung sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm tôm chất lượng sạch, ổn định và bền vững, phục vụ chủ yếu cho thị trường xuất khẩu. Đáp ứng nhu cầu trên, tỉnh đã ưu tiên nguồn vốn ngân sách chú trọng đầu tư thi công sớm những công trình bờ bao, cống - bọng, đường điện hạ thế... Cùng với đó, ngành nông nghiệp đang củng cố và nâng cao năng lực của các hợp tác xã tôm càng xanh trong việc làm đầu mối quản lý, tổ chức sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên; đồng thời nâng cao năng lực của trại sản xuất tôm giống, cũng như liên kết chặt chẽ với các trại sản xuất tôm giống tốt ngoài huyện, bảo đảm cung cấp đủ con giống cho sản xuất.
“Từ thành công của Tam Nông đã giúp mở ra một hướng làm ăn mới cho người dân mùa nước nổi ở các tỉnh ĐBSCL. Điều quan trọng lúc này là công tác quy hoạch phải giúp cho hạn chế được tình trạng phát triển tự phát và nguồn con giống phải đảm bảo chất lượng để giúp nhà nông giảm thiệt hại và yên tâm với sản xuất…”, anh Lạc lưu ý.
Bài và ảnh: Lê Nghĩa
Bài 3: Rộn ràng “trẩy hội” mùa nước nổi